SẢN XUẤT VÀ CHI PHÍ

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 307 - 310)

1, TONG DOANH THU, TỔNG CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN

II. SẢN XUẤT VÀ CHI PHÍ

Các doanh nghiệp phải chịu chỉ phí khi họ mua nguyên liệu để sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ. Trong phần này, chúng ta hãy xem xét mối quan hệ giữa quá trình sản xuất của doanh nghiệp và tổng chỉ phí của nó. Một lần nữa, chúng ta trở lại với nhà máy bánh ngọt của Bảo Ngọc.

Trong phần phân tích tiếp theo, chúng ta đưa ra một giả định đơn giản hóa rất quan trọng: chúng ta sẽ giả định rằng quy mô nhà máy của Bảo Ngọc bị cố định và Bảo Ngọc chỉ có thể thay đổi lượng bánh sản xuất bằng cách thay đổi số lượng công nhân. Giả định này sát với thực tế trong ngắn hạn, nhưng không đúng trong dài hạn. Nghĩa là, Bảo Ngọc không thể xây dựng

nhà máy lớn hơn trong một đêm, nhưng cô có thể làm như vậy trong một hay vài năm. Do đó, phần phân tích này nên được coi là cách mô tả các quyết định sản xuất mà Bảo Ngọc phải đối mặt trong ngắn hạn. Chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa chi phi va thời gian một cách đầy đủ hơn ở phần sau của bài này.

1. HẦM SẢN XUẤT

Bảng 13.1 ghi lượng bánh ngọt mà nhà máy của Bảo Ngọc sản xuất ra trong một giờ và chỉ ra rằng đại lượng này phụ thuộc vào số lượng công nhân. Nếu không có công nhân trong nhà máy, Bảo Ngọc không sản xuất chiếc bánh nào 313

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

cả. Khi có một công nhân, cô sản xuất 50 chiếc bánh. Khi có 2 công nhân, cô sản xuất 90 chiếc, và vân vân. Hình 13.2 vẽ đồ thị từ hai cột số liệu đầu của bảng 13.1. Số lượng công nhân được ghi trên trục hoành, còn lượng bánh ngọt sản xuất ghi trên trục tung. Mối quan hệ giữa lượng đầu vào (công nhân) và sản lượng (bánh ngọt) được gọi là hàm sản xuất.

So Sản lượng |Sản phẩm | Chi phícho | Chỉ phí trả [Tổng chỉ phí đầu vào công | (chiếc bánh | cận biên nhà máy cho công |(Chi phí cho nhà máy nhân |ngọt sản xuất | của lao (nghìn nhân (nghìn |+ Chi phi trả cho công mỗi giờ) động đồng) đồng) nhân) (nghìn đồng)

(i) (2) @) (4) (5) (6)

0 0 - 30 0 30

1 50 50 30 10 40

2 90 40 30 20 50

3 120 30 30 30 60

4 140 20 30 40 70

5 150 10 30 50 80

Bảng 13.1. Hàm sản xuất và tổng chỉ phí: nhà máy bánh ngọt Bảo Ngọc.

Một trong các nguyên lý của kinh tế học giới thiệu trong bài 1 là: Con người duy lý suy nghĩ tại điểm cận biên. Như chúng ta sẽ thấy trong các bài tiếp theo, quan điểm này đóng vai trò then chốt trong việc tìm hiểu quyết định của doanh nghiệp về việc nên thuê bao nhiêu công nhân và sản xuất bao nhiêu sản lượng.

Để tiến thêm một bước tới sự hiểu biết về các quyết định này, cột (3) trong bảng 13.1 ghi sản phẩm cận biên của mỗi công nhân. Sản phẩm cận biên của bất kỳ đầu vào nào trong quá trình sản xuất cũng bằng mức tăng sản lượng thu được từ một đơn vị tăng thêm của đầu vào đó. Khi số công nhân tăng từ 1 lên 2, sản lượng bánh ngọt tăng từ 50 lên 90, vì vậy sản phẩm cận biên của người công nhân thứ hai là 40 chiếc bánh ngọt. Và khi số lượng công nhân tăng từ 2 lên 3 người, sản lượng bánh ngọt tăng từ 90 lên 120, vì vậy sản phẩm cận biên của người công nhân thứ ba là 30 chiếc bánh ngọt.

Cần lưu ý rằng khi số công nhân tăng, sản phẩm cận biên giảm. Người công nhân thứ hai có sản phẩm cận biên là 40 chiếc bánh, người công nhân thứ ba có sản phẩm cận biên là 30 chiếc và người công nhân thứ tư có sản phẩm cận biên là 20 chiếc. Thuộc tính này được gọi là quy luật sẩn phẩm cận biên giảm dân.

Lý do dẫn tới quy luật này là ban đầu, khi chỉ có ít công nhân được thuê, họ dễ

dàng sử dụng thiết bị nấu nướng của Bảo Ngọc. Khi số lượng công nhân tăng lên, những công nhân tăng thêm phải chia sẻ thiết bị hiện có với công nhân cũ và làm việc trong điều kiện chật chội hơn. Vì vậy khi thuê ngày càng nhiều công nhân, mỗi công nhân tăng thêm đóng góp ngày càng ít vào sản lượng bánh ngọt của nhà máy.

314

Sản hượng (Chiếc bánh/giờ)

150 140 Hàm sản xuất

130 120 110 100 90 80 70 60 50 40 30 20 10

0 1 2 3 4 5 Lượng đầu vào

(Số công nhân)

Hình 13.2. Hàm sản xuất của nhà máy bánh ngọt Bảo Ngọc. Hàm sản xuất chỉ ra mối quan hệ giữa số công nhân sử dụng và sản lượng sản xuất. Số công nhân (trên trục hoành) được lấy từ cột ( 1) của bảng 13.1 và sản lượng (irue trng) được lấy từ cột (2). Độ dốc của hàm sản xuất giảm dân khi số công nhân tăng, phản ánh quy luật sẵn phẩm cận biên giảm dân.

Quy luật sản phẩm cận biên giảm đần cũng thể hiện rõ trong hình 13.2. Độ dốc của hàm sản xuất (bằng tung độ chia cho hoành độ) cho ta biết mức thay đổi sản lượng bánh ngọt của Bảo Ngọc (“tung độ”) cho mỗi đầu vào lao động

tăng thêm (“hoành độ”). Nghĩa là, độ dốc của hàm sản xuất phản ánh sản phẩm cận biên của một công nhân. Khi số công nhân tăng, sản phẩm cận biên giảm và

hầm sản xuất trở nên phẳng hơn.

9. TY HAM SAN XUAT DEN DUONG TONG CHI PHI

Ba cột cuối cùng của bang 13.1 ghi chỉ phí sản xuất bánh ngọt của Bảo Ngọc. Trong ví dụ này, chỉ phí của cô là 30 nghìn đồng một giờ và chỉ phí trả cho công nhân là 10 nghìn đồng một giờ. Nếu cô thuê 1 công nhân, tổng chỉ phí của cô bằng 40 nghìn đồng. Nếu cô thuê 2 công nhân, tổng chỉ phí của cô bằng 50 nghìn đồng, và vân vân. Nhờ thông tin này, giờ đây bảng trên cho chúng ta biết số công nhân mà Bảo Ngọc thuê có mối quan hệ như thế nào với lượng bánh ngọt mà cô sản xuất và với tổng chỉ phí sản xuất của cô.

Mục đích của chúng ta trong nhiều bài tiếp theo là nghiên cứu các quyết định sản xuất và định giá của doanh nghiệp. Đối với mục đích này, mối quan hệ quan trọng nhất trong bảng 13.1 là giữa sản lượng sản xuất (cột 2) và tổng chỉ phí (cột 6). Hình 13.3 vẽ đồ thị từ số liệu của của hai cột này với sản lượng sản xuất trên trục hoành và tổng chỉ phí trên trục tung. Đồ thị này gọi là đường tổng chỉ phí.

315

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Tổng chỉ phí

(nghìn đồng) 807

70 4 60 4 50 4

40 4

30 20 4

104 oT rr 2 40 60 80 100 st 120 140 Sẩn lượng

(Chiếc bánh mỗi giờ)

Hình 13.3. Đường tổng chỉ phí của nhà máy bánh ngọt Bảo Ngọc. Đường tổng chỉ phí chỉ ra mối quan hệ giữa sản lượng được sẵn xuất ra và tổng chỉ phí phát sinh từ sản xuất. Sản lượng (trên trục hoành) được lấy từ cột (2) trong bảng 13.1 và tổng chỉ phí (trục tung) lấy từ cột (6). Độ đốc của đường tổng chỉ phí khi sản lượng tăng do quy luật sản phẩm cận biên giảm đần.

Hãy chú ý rằng đường tổng chỉ phí ngày càng đốc khi sản lượng tăng. Hình dạng của đường tổng chỉ phí trong hình này phân ánh hình đạng của hàm sản xuất trong hình 13.2. Chúng ta hãy nhớ lại rằng khi nhà máy bánh ngọt của Bảo Ngọc đông công nhân, thì mỗi công nhân tăng thêm sản xuất được lượng bánh ngọt ít hơn. Quy luật sản phẩm cận biên giảm dần này được phản ánh lại bằng độ dốc giảm dẫn của hàm sản xuất khi lượng công nhân tăng. Nhưng bây giờ lô gích trên chuyển theo hướng ngược lại: khi Bảo Ngọc sản xuất một lượng bánh lớn, cô phải thuê nhiều công nhân. Vì nhà xưởng của cô đã chật chội, việc sản xuất thêm một chiếc bánh ngọt khá tốn kém. Cho nên khi sản lượng tăng thêm, đường tổng chi phí trở nên đốc hơn.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 307 - 310)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)