CÁC DẠNG ĐƯỜNG CUNG KHÁC NHAU

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 118 - 121)

NGHIÊN CỨU TỈNH HUỐNG: ĐỊNH GIÁ VỀ VÀO THAM @UAN VIỆN BẢO TANG

3. CÁC DẠNG ĐƯỜNG CUNG KHÁC NHAU

Vì hệ số co giãn giá của cung phản ánh mức độ nhạy cảm của lượng cung đối với giá cả, nên nó cũng cho chúng ta biết hình dang của đường cung. Hình 5.6 nêu ra năm trường hợp. Trong trường hợp đặc biệt với hệ số co giãn bằng 0, cung hoàn toàn không co giãn và đường cung là một đường thẳng đứng.

Trong trường hợp này, lượng cung không thay đối bất kể giá cả bằng bao nhiêu. Khi hệ số co giãn tăng lên, đường cung trở nên phẳng hơn và điều này cho thấy lượng cung phản ứng mạnh hơn trước đối với sự thay đổi của giá cả.

Một trường hợp đặc biệt ngược lại là cung hoàn toàn co giấn. Điều đó xảy ra khi hệ số co giãn giá của cung tiến đến vô hạn và đường cung nằm ngang.

Nghĩa là, sự thay đổi rất nhỏ của giá cũng dẫn đến sự thay đổi rất lớn của

lượng cung.

120

(a) Cung hoàn toàn không co giãn: (b) Cung không co giãn:

Hệ số co giãn bằng 0 Hệ số co giãn nhỏ hơn L

Giá Cung Giá Cung

3Ƒ TT 5

ap--- ooo 4

1. Giá É Giá

tăng. tăng

22%...

100. Luong 00 110 Luong

2. ... khong làm thay đổi lượng cung 2.... làm lượng cung tăng thêm 10%

Giá Cung (c) Cung co giân đơn vị:

Hệ số co giãn bằng Ì

A 5 1.Giá tăng 22%...

100 125 Lượng 2. ... làm lượng cũng tăng thêm 22%

(d) Cung co giãn mạnh: (e) Cung co giãn hoàn toàn:

Hệ số co giãn lớn hon 1 hệ số co giãn bằng vô cùng

Giá cid

|__1, Tai mtic gid cao hon 4,

5|---> lugng cung bang v6 cing.

-4——':

3. Với giá bằng 4, |__2. Giá thấp hơn 4 thì

1 1 '

1. Giá 1 `

tăng : ¡ ngườibánsẽcung| lượng cung bằng không 22%... ' !. một lượng bất kỳ

100 200 Lượng “° — Lượng

2.... làm cung tăng 67% > 22%

Hình 5.6. Hệ số co giãn giá của cung. Hệ số co giấn giá của cung quyết định đường cung đốc hay phẳng. Hãy chú ý rằng tất cả các mức phần trăm thay đổi déu được tinh bằng phương pháp trung điểm.

121

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Trên một số thị trường, hệ số co giãn giá của cung không cố định, mà thay đổi dọc theo đường cung. Hình 5.7 chỉ ra trường hợp đặc trưng cho một ngành mà các doanh nghiệp sản xuất của nó bị giới hạn về năng lực sản xuất. Tại các mức cung thấp, hệ số co giãn của cung cao do các doanh nghiệp có thể phản ứng nhanh chóng trước sự thay đổi của giá. Trong khoảng sản lượng này, các doanh nghiệp vẫn còn năng lực sản xuất nhàn rỗi, chẳng hạn nhà xưởng, máy móc, thiết bị bỏ không cả ngày hoặc một phần trong ngày. Do vậy, sự gia tăng nhỏ của giá cả cũng làm cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn và họ tìm cách tận dụng phần năng lực sản xuất còn nhàn rỗi của mình. Khi sản lượng tăng, doanh nghiệp dần dần tận dụng hết năng lực sản xuất. Khi năng lực sản xuất đã được sử dụng hết, việc tăng sản xuất thêm nữa đồi hỏi phải xây dựng thêm nhà xưởng, lắp đặt thêm máy móc. Để khuyến khích các doanh nghiệp quyết định chấp nhận thêm các khoản chỉ phí như vậy, giá cả phải tăng đáng kể.

Đây là lý do giải thích vì sao cung trở nên ít co giãn hơn.

Giá

I5P---~---~-.

Hệ số co giãn nhỏ hơn | Ị

12ƒTTTTT~xrrrre=rr=r-rr~r #

t t

Hệ số co giãn Ị

4h-...- 00 Moen ¿ 1 1

3Ƒ -—— 1 '

t t 1 1 1

1 1 1 t t 1

t 1 1 1 t 1 ' t ' ' '

100 200 500 525 Lượng 5

Hình 5.7. Hệ số co giãn giá của cung thay đổi như thế nào. Do các doanh nghiệp thường có năng lực sản xuất tối đa, nên hệ số co giãn giá của cung rất lớn ở những mức cung thấp và rất nhỏ ở HhữNg nUÍC CHHg cao. Ở đây giá tăng từ 3 nghìn đồng lên 4 nghìn đông, làm cho lượng cung tăng từ 100 lên 200. Do cũng tăng 100%, nhiều hơn so với tỷ lệ tăng của giá là 33%, dường cung co giãn ở khoảng sản lượng này. Ngược lại, khi giá tăng từ I2 nghìn đồng lên 15 nghìn đồng, lượng cung chỉ tăng từ 500 lên 525. Khi đó, giá tăng 25% thì lượng cũng chỉ tăng 5%, đường cung không co giãn trong khoảng sản lượng này.

Hình 5.7 là một ví dụ bằng số về trường hợp này. Khi giá tăng từ 3 nghìn đồng lên 4 nghìn đồng (tăng 29% theo phương pháp trung điểm), lượng cung tăng từ 100 lên 200 (tăng 67%). Do lượng cung thay đổi với tỷ lệ lớn hơn so với giá cá, đường cung có hệ số co giãn lớn hơn 1. Ngược lại, khi giá tăng từ 12 nghìn đồng đến l5 nghìn đồng (tăng 22%), lượng cung tăng từ 500 lên 525

122

(tăng 5%). Trong trường hợp này, lượng cung thay đổi với tỷ lệ thấp hơn so với giá, do đó hệ số co giãn của cung nhỏ hơn 1.

Ill. BA UNG DUNG CUA CUNG, CAU VA HE SO CO GIAN

Mot tin tức tốt lành trong ngành trồng trọt có thể là tin xấu cho người nông dân không? Tại sao Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) lại thất bại trong việc duy trì giá dầu ở mức cao? Biện pháp cấm ma tuý làm tăng hay giảm các vụ tội phạm liên quan đến ma tuý? Mới nhìn qua, những câu hỏi này dường như không có mấy điểm chung. Song tất cả đều là những câu hỏi về các thị trường, và tất cả các thị trường đêu phụ thuộc vào các lực lượng cung cầu. Ở đây chúng ta ứng dụng các công cụ cung, cầu và hệ số co giãn để trả lời những câu hỏi có vẻ phức tạp này.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 118 - 121)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)