RỜI BỎ THỊ TRƯỜNG

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 339 - 342)

Quyết định rời bỏ thị trường trong dài hạn của doanh nghiệp cũng giống như quyết định đóng cửa. Nếu rời bỏ thị trường, doanh nghiệp cũng mất toàn bộ doanh thu từ việc bán sản phẩm của mình, nhưng giờ đây nó có thể tiết kiệm được cả chi phí cố định và chi phi biến đổi của sản xuất. Do đó, doanh nghiệp sẽ rời bổ thị trường nếu doanh thu nhận được từ việc sẵn xuất nhỏ hơn tổng chỉ phí của nó.

Chúng ta cũng có thể làm tiêu chuẩn này trở nên hữu ích hơn bằng cách trình bày nó dưới dạng toán học. Néu TR là tổng doanh thu va TC 1a tổng chỉ phí, khi đó quyết định của doanh nghiệp có thể viết như sau :

Rời bỏ thị trường nếu TR < TC

Doanh nghiệp rời bỏ thị trường nếu tổng doanh thu nhỏ hơn tổng chỉ phí.

Chia cả hai vế cho sản lượng Q, chúng ta được:

Roi bo thị trường nếu TRJQ < TC/Q

Chúng ta có thể đơn giản hoá hơn nữa nếu lưu ý rằng TR/Ợ là doanh thu bình quân và bằng giá ca P, con TC/Q là tổng chỉ phí bình quan ATC. Vi vay, quyét định rời bỏ thị trường của doanh nghiệp có thể viết dưới dạng:

Rời bỏ thị trường nếu P < ATC

Như vậy, doanh nghiệp sẽ quyết định rời khỏi thị trường nếu giá hàng hoá thấp hơn chỉ phí sản xuất bình quân.

Cách phân tích tương tự cũng đúng với những người đang cân nhắc về việc

có nên khởi nghiệp kinh doanh không. Họ gia nhập thị trường nếu hành vi đó có

khả năng sinh lời, mà điều đó chỉ xảy ra nếu giá hàng hoá cao hơn chỉ phí sản

xuất bình quân. Vì vậy, quyết định gia nhập thị trường có thể viết dưới dạng:

Gia nhập nếu P > ATC

Quyết định gia nhập thực chất là ngược với quyết định rời bỏ thị trường. Bây giờ chúng ta đã sẵn sàng để mô tả chiến lược tối đa hoá lợi nhuận trong dài hạn của 345

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

doanh nghiệp cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường, nó sẽ sản xuất mức sản lượng mà tại đó chỉ phí cận biên bằng mức giá. Nhưng nếu giá thấp hơn tổng chỉ phí bình quân ở mức sản lượng đó, doanh nghiệp sẽ quyết định rời bỏ (hoặc không gia nhập) thị trường. Các kết quả này được minh hoạ trong hình 14.4. Đường cung dài hạn của doanh nghiệp cạnh tranh là phần đường chỉ phí cận biên nằm trên đường tổng chỉ phí bình quân.

Chỉ phí

. : ME

Đường cung dài hạn của doanh nghiệp

AIC Doanh ghiép

rời bỏ thị trường nếu

P<ATrc

0 Lượng

Hình 14.4. Đường cung dài hạn của doanh nghiệp cạnh tranh. 7rong dài hạn, đường cung của doanh nghiệp cạnh tranh là phần đường chỉ phí cận biên (MC) nằm trên đường tổng chỉ phí bình quân (ATC). Nếu giá hàng hoá thấp hơn ATC, doanh nghiệp nên rời bỏ thị trường.

6. CÁCH TÍNH LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP CẠNH TRANH BẰNG

DO THI

Khi phân tích sự rời bỏ hay gia nhập thị trường, sẽ là rất hữu ích nếu có thể phân tích chỉ tiết hơn lợi nhuận của doanh nghiệp. Nên nhớ rằng lợi nhuận bằng tổng doanh thu (7T) trừ tổng chi phi (TC):

Lợi nhuận = TR - TC

Chúng ta có thể viết lại định nghĩa này bằng cách nhân và chia vế phải cho Ợ:

Lợi nhuận = (TR/O - TC/Q) x Q

Cách biểu diễn lợi nhuận này cho phép chúng ta tính được lợi nhuận trên đồ thị.

Phần (a) của hình 14.5 biểu thị một doanh nghiệp thu được mức lợi nhuận dương. Như chúng ta đã nói, doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận khi sản xuất ở mức sản lượng mà tại đó giá cả bằng chỉ phí cận biên. Bây giờ hãy nhìn vào phần hình chữ nhật tô đậm. Chiều cao của hình chữ nhật bằng (P - ATC), tức phần chênh lệch giữa giá và tổng chỉ phí bình quân. Đáy của hình chữ nhật là Ó, 346

tức mức sản lượng được sản xuất ra. Vì vậy, diện tích của hình chữ nhật (P - ATC)Q chính là lợi nhuận của doanh nghiệp.

(a) Doanh nghiệp có lãi (b) Doanh nghiệp thua lỗ

Giá Giá

MG ATC

Loi nhuan

p 'P=AR=MR

ATCE--- ‘ ATC

1 I £

1 1 1 1 +

0 QO Luong 0 @ Lượng

Sản lượng tối đa Sản lượng tối thiểu hoá thua lỗ hoá lợi nhuận

Hình 14.5. Lợi nhuận là diện tích nằm giữa giá cả và tổng chỉ phí bình quân. Phần tô đậm nằm giữa giá cả và tổng chỉ phí bình quân là lợi nhuận của doanh nghiệp. Chiêu cao của hình chữ nhật là giá cả trừ tổng chỉ phí bình quân (P-ATC) và đáy của nó là sản lượng (Q). Trong phần (a), vì P > ATC, nên doanh nghiệp có lợi nhuận. Trong phần (b), do P < ATC, nên doanh nghiép bi thua lỗ.

Tương tự như vậy, phần (b) trong hình 14.5 biểu thị đoanh nghiệp bị thua lỗ (lợi nhuận âm). Trong trường hợp này, việc tối đa hoá lợi nhuận hàm ý phải tối thiểu hóa thua lỗ và doanh nghiệp có thể đạt được điều đó bằng cách sản xuất ở mức sản lượng có giá cả bằng chỉ phí cận biên. Bây giờ chúng ta hãy xem xét hình chữ nhật ở phần (b). Chiêu cao của hình chữ nhật là ATC - P và đáy là Ó.

Diện tích của nó (ATC - P)Q là mức thua lỗ của doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp trong tình huống này không đạt đoanh thu đủ để bù tổng chỉ phí bình quân, nên nó quyết định rời bỏ thị trường.

II. ĐƯỜNG CUNG TRONG THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH

Giờ đây, sau khi đã nghiên cứu quyết định cung của một doanh nghiệp cá biệt, chúng ta có thể bàn về đường cung của thị trường. Có hai trường hợp cần xem xét. Thứ nhất, chúng ta nghiên cứu thị trường có số doanh nghiệp cố định.

Thứ hai, chúng ta nghiên cứu thị trường mà số doanh nghiệp có thể thay đổi do 347

BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ VI MÔ

các doanh nghiệp cũ rời bỏ thị trường và các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường. Cả hai trường hợp đều quan trọng, vì mỗi trường hợp được áp dụng cho một khoảng thời gian nhất định. Trong ngắn hạn, việc các doanh nghiệp gia nhập hay rời bỏ thị trường thường rất khó xảy ra và vì vậy việc giả định số doanh nghiệp cố định tỏ ra thích hợp. Nhưng trong dài hạn, số doanh nghiệp có thể điều chỉnh để thích nghỉ với sự thay đổi của tình hình thị trường.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 339 - 342)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)