NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: SINH MẠNG NGƯỜI MỸ ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU?
2. MỘT VÀI NGUỒN LỰC CỘNG DONG QUAN TRONG
Có nhiều ví dụ về nguồn lực cộng đồng. Trong hầu hết các trường hợp, chúng ta đều thấy van dé nảy sinh tương tự như trong bi kịch cộng đồng vừa trình bày ở trên: các nhà ra quyết định tư nhân sử dụng nguồn lực cộng đồng quá mức. Chính phủ thường điều chỉnh hành vi hoặc áp đặt một khoản phí để giảm bớt vấn đề sử dụng quá mức này.
271
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Không khí và nước sạch
Như chúng ta đã thảo luận trong bài 10, thị trường không có khả năng bảo vệ môi trường ở mức thích hợp. Ô nhiễm là một ảnh hưởng ngoại hiện tiêu cực có thể được sửa chữa thông qua các quy định hoặc thuế Pigou đánh vào hành động gây ô nhiễm. Chúng ta có thể coi thất bại thị trường này như một ví dụ về vấn đề nguồn lực cộng đồng. Không khí và nước sạch là những nguồn lực cộng đồng giống như bãi cỏ được tự do chăn thả và sự ô nhiễm quá lớn giống như việc súc vật ăn cỏ quá nhiều. Sự xuống cấp của môi trường là bi kịch cộng đồng hiện đại.
Mỏ dâu
Chúng ta hãy xem xét một mỏ dầu lớn đến mức nó trải đài dưới vùng đất thuộc quyền sở hữu của nhiều người. Bất kỳ chủ sở hữu nào cũng có thể khoan và khai thác dầu, nhưng khi một chủ sở hữu khai thác dâu, thì lượng dầu còn lại cho các chủ sở hữu khác sẽ ít đi. Trong trường hợp này, dầu mỏ là một nguồn lực cộng đồng.
Giống như số cừu ăn cỏ trên đất cộng đồng lớn đến mức không có hiệu quả, số giếng khoan để khai thác mỏ dầu cũng lớn đến mức không có hiệu quả. Do khi mỗi chủ sở hữu khoan một giếng dầu, họ sẽ gây ra ảnh hưởng ngoại hiện tiêu cực đối với các chủ sở hữu khác, nên ích lợi xã hội của việc khoan một giếng dầu nhỏ hơn ích lợi mà người chủ sở hữu giếng khoan thu được. Nghĩa là, việc khoan một giếng dầu có thể đem lại lợi nhuận tư nhân ngay cả khi việc làm đó không đáng mong muốn đối với xã hội. Nếu mỗi chủ sở hữu mỏ dầu có quyền quyết định số giếng mà họ khoan, thì họ sé khoan quá nhiều giếng đầu.
Để đảm bảo dầu được khai thác với chỉ phí thấp nhất, cần có một số hành động chung của các chủ sở hữu nhằm giải quyết vấn đề nguồn lực cộng đồng.
Dinh dé Coase mà chúng ta đã thảo luận trong bài 10 cho rằng có thể có một giải pháp tư nhân. Những người chủ sở hữu có thể đạt được thoả thuận về lượng
dầu khai thác và phân chia lợi nhuận. Trong thực tế, những người chủ sở hữu sau đó đã hành động như thể họ thuộc một doanh nghiệp duy nhất.
Tuy nhiên, rất khó đạt được giải pháp tư nhân khi có nhiều chủ sở hữu.
Trong trường hợp này, sự điều chỉnh của chính phủ có thể đảm bảo cho dầu được khai thác một cách có hiệu qua. Có lẽ đây là lý do dẫn tới việc các chính phủ hiện nay đều tuyên bố các giếng đầu thuộc sở hữu công cộng, chứ không cho tư nhân sở hữu như nước Mỹ trước đây.
Các con đường tắc nghẽn
Các con đường có thể là hàng hoá công cộng hoặc nguồn lực cộng đồng. Nếu một con đường có ít người đi lại, thì việc sử dụng của người nào đó không ảnh
hưởng đến khả năng sử dụng của những người khác. Trong trường hợp này, việc
sử dụng không có tính tranh giành và con đường là hàng hoá công cộng. Tuy 272
Bài 11. Hàng hoá công cộng và nguồn lực công đồng
nhiên, nếu con đường có nhiều người đi lại, thì việc sử dụng nó gây ra ảnh hưởng ngoại hiện tiêu cực. Khi có thêm một chiếc ô tô, con đường có thể bị tắc nghẽn và những người khác phải lái xe chậm hơn. Trong trường hợp này, con đường là nguồn lực cộng đồng.
Chính phủ có thể giải quyết vấn đề tắc nghẽn bằng cách thu phí đối với lái xe. Khoản phí này thực chất là thuế Pigou đánh vào ảnh hưởng ngoại hiện tắc nghẽn. Tuy nhiên, việc thu phí có thể không phải là giải pháp thực tế, nếu chi phí cho việc thu phí quá lớn.
Đôi khi sự tắc nghẽn chỉ là vấn đề ở những thời điểm nhất định nào đó trong ngày. Ví dụ, nếu một chiếc cầu chỉ có quá nhiều xe cộ qua lại trong những giờ cao điểm, thì ảnh hưởng ngoại hiện tắc nghẽn sẽ lớn trong những thời gian này.
Phương pháp có hiệu quả để giải quyết những ảnh hưởng ngoại hiện thuộc loại này là thu phí cao hơn trong giờ cao điểm. Khoản phí này sẽ tạo động cơ cho các lái xe thay đổi lịch trình và làm giảm lượng xe cộ khi sự tắc nghến lớn nhất.
Một chính sách khác có thể giải quyết được vấn đề tắc nghẽn giao thông đã được thảo luận trong một nghiên cứu tình huống ở bài trước là thuế đánh vào xăng dầu. Xăng dầu là hàng hoá bổ sung đối với phương tiện giao thông: sự gia tăng giá xăng dầu làm giảm lượng cầu về phương tiện giao thông. Do vậy, thuế xăng đầu góp phần làm giảm tắc nghẽn giao thông.
Tuy nhiên, thuế xăng dầu là giải pháp không hoàn hảo đối với tắn nghẽn giao thông. Vấn để là thuế xăng dâu có thể ảnh hưởng đến các quyết định khác, chứ không phải chỉ ảnh hưởng đến lưu lượng xe cộ trên những con đường bị tắc nghẽn. Ví dụ, thuế xăng dầu còn làm giảm lượng xe lưu hành trên những con đường ít người qua lại, mặc dù ở đó không có ảnh hưởng ngoại hiện tắc nghẽn.
Cá, cá voi và các động vật hoang dã khác
Nhiều loài động vật cũng là những nguồn lực cộng đồng. Ví dụ, cá và cá voi có giá trị thương mại và bất kỳ ai cũng có thể ra đại dương và đánh bắt ở những nơi có cá, Mỗi cá nhân có rất ít động cơ duy trì những sinh vật này cho năm sau.
Giống như việc khai thác quá nhiều có có thể phá huỷ đất cộng đồng, việc đánh bất quá nhiều cá có thể huỷ hoại các loài sinh vật biển có giá trị thương mại.
Đại dương vẫn là một trong những nguồn lực cộng đồng-ít được quản lý nhất. Hai vấn dé gây khó khăn cho việc đưa ra một giải pháp khả thi. Thứ nhất, nhiều nước có khả năng khai thác đại dương, do vậy bất kỳ giải pháp nào cũng đều cần có sự hợp tác quốc tế giữa các nước tuân thủ các giá trị khác nhau. Thứ hai, do đại dương quá rộng lớn, nên việc thực thi một thoả thuận nào đó sé rat khó khăn. Vì vậy, quyền đánh bắt cá thường là nguồn gốc gây căng thắng giữa các nước mà thông thường là bạn bè của nhau.
273
Ở Mỹ có nhiều điều luật bảo vệ cá và các loài sinh vật hoang đã khác. Ví dụ, Chính phủ Mỹ thu phí khi cấp giấy phép, giới hạn và kiểm soát thời vụ đánh bắt và săn bắn. Ngư dân thường buộc phải thả trở lại biển những con cá nhỏ và thợ săn chỉ được phép săn bắn một số lượng động vật hoang đã hạn chế. Tất cả những điều luật này đều nhằm làm giảm mức sử dụng nguồn lực cộng đồng và góp phần duy trì số lượng động vật.
NGHIEN CUU TINH HUONG: TAI SAO BO KHONG Bi TUYET CHUNG?
Trong lịch sử, nhiều loài vật đã bị đe doạ tuyệt chủng. Khi những người châu Âu lần đầu tiên đến Nam Mỹ, cả lục địa này có khoảng hơn 600 triệu con trâu. Do việc săn bắt trâu trong thế kỷ 19 trở nên phổ biến đến mức mà vào năm 1900, số trâu giảm xuống chỉ còn khoảng 400, con trước khi chính phủ các nước Nam Mỹ thực thi nhiều biện pháp để bảo vệ loài vật này. Ngày nay ở một số nước châu Phi, loài voi đang phải đối mặt với nguy cơ tương tự, khi những kẻ săn trộm giết chúng để lấy ngà.
Tuy nhiên, không phải tất cả các loài động vật có giá trị thương mại đều phải đối mat với mối đe doa này. Ví dụ, bò là một nguồn thực phẩm có giá trị, song không ai lo lắng rằng bò sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng. Trên thực tế, nhu cầu khổng lồ về thịt bò có vẻ như đảm bảo rằng loài vật này tiếp tục phát triển.
Tại sao giá trị thương mại của những chiếc ngà là mối đe doa đối với loài voi, trong khi đó giá trị thương mại của thịt bò lại là công cụ bảo vệ loài bò? Lý do ở đây là: voi là nguồn lực cộng đồng, trong khi bò là hàng hoá tư nhân.
Những con voi tự do đi lang thang và không có ai sở hữu chúng. Những kẻ sẵn trộm có động cơ mạnh mẽ để giết càng nhiều voi càng tốt. Do số kẻ săn trộm rất lớn, nên mỗi kẻ săn trộm chỉ có một động cơ nhỏ để bảo vệ số lượng voi. Ngược lại, bò sống trong những trại chăn nuôi thuộc sở hữu tư nhân. Các chủ trang trại có nỗ lực lớn trong việc duy trì số lượng bò ở trang trại của mình, bởi vì anh ta được lợi từ những nỗ lực đó.
Các chính phủ tìm cách giải quyết vấn đẻ của loài voi theo hai cách. Một số nước, ví dụ Kenya, Tanzania và Uganda, nghiêm cấm việc giết voi và mua bán ngà voi. Song các điều luật này rất khó thực thi và số lượng voi tiếp tục giảm.
Ngược lại những nước khác, ví dụ Botswana, Malawi, Namibia, và Zimbabwe,
đã biến loài voi trở thành hàng hoá tư nhân bằng cách cho phép mọi người giết voi, nhưng chỉ đối với những con voi thuộc quyền sở hữu của chính họ. Các chủ
sở hữu đất giờ đây có động cơ bảo tồn loài vật này trên mảnh đất thuộc quyền
sở hữu của mình và kết quả là số lượng voi bắt đầu tăng lên. Với sở hữu tư nhân và động cơ lợi nhuận giống như đối với loài bò, vào một ngày nào đó những con
voi châu Phi sẽ tránh được nguy cơ tuyệt chủng.
`
274
Bài 11. Hàng hoá công cộng và nguồn lực cộng đồng