TỔN THẤT TẢ! TRỌNG ĐỐI VỚI XÃ HỘI

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 370 - 374)

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: DƯỢC PHẨM ĐỘC QUYỀN VẢ DƯỢC PHẨM NHÁI

IV. TỔN THẤT TẢ! TRỌNG ĐỐI VỚI XÃ HỘI

Chúng ta bất đầu bằng cách tìm hiểu xem doanh nghiệp độc quyền làm gì

khi nó được một nhà hoạch định xã hội nhân từ quản lý. Nhà hoạch định này không chỉ quan tâm đến lợi nhuận của chủ sở hữu doanh nghiệp, mà còn quan tâm đến ích lợi của người tiêu dùng. Anh ta sẽ tìm cách tối đa hoá tổng thặng dư, tức tổng thặng dư của cả người sản xuất (lợi nhuận) và của người tiêu dùng.

Hãy nhớ lại rằng tổng thăng dư bằng giá trị của hàng hoá đối với người tiêu dùng trừ chỉ phí của nhà sản xuất độc quyền để sản xuất hàng hoá đó.

“Hình 15.7 phân tích mức sản lượng mà nhà hoạch định xã hội lựa chọn.

Đường cầu phản ánh giá trị của hàng hoá đối với người tiêu dùng, nó được tính bằng sự sẵn sàng thanh toán của họ. Đường chỉ phí cận biên phản ánh chỉ phí 376

của nhà độc quyền. 2o vậy, mức sản lượng có hiệu quả xã hội được xác định tại giao điểm của đường cầu và đường chỉ phí cận biên. Dưới mức sản lượng này, giá trị đối với người tiêu dùng lớn hơn chỉ phí cận biên của việc cung ứng hàng hoá đó, do vậy việc tăng sản lượng làm tăng tổng thặng dư. Trên mức sản lượng nay, chi phí cận biên lớn hơn giá trị đối với người tiêu dùng, do vậy việc cắt giảm sản lượng làm tăng tổng thặng dư.

⁄” phí cận biên Giá trị đối với người ì † Chỉ phí của nhà độc quyền

mua 1 1

pope ! ' Giá trị đối với

Chỉ phí của A người mua

I 1

nhà độc quyển YY Cầu (giá trị đối ` Tư vn An

với người mua)

0 San lượng: L Sản lượng

có hiệu quả

ne Giá cả

Giá trị đối với người Giá trị đổi với người.

mua lớn hơn chỉ phí mua nhỏ hơn chỉ phí của người bán của người bán

Hình 15.7. Mức sản lượng hiệu quả. Nhà hoạch định xã hội muốn tối đa hoá

tổng phúc lợi trên thị trường sẽ chọn mức sản lượng mà tại đó đường cẩu và đường chỉ phí cận biên cất nhau. Dưới mức sản lượng này, giá trị của hàng hoá đối với người mua cận biên (được phảẩn ánh bằng đường cầu) lớn hơn chỉ phí cận biên của việc sản xuất hàng hoá đó. Ở trên mức sản lượng này, giá trị đối với người mua cận biên thấp hơn chỉ phí cận biên.

Nếu nhà hoạch định xã hội nhân từ điều hành doanh nghiệp độc quyển, thì doanh nghiệp có thể đạt được kết cục hiệu quả này bằng cách quy định mức giá tại giao điểm của đường cầu và đường chỉ phí cận biên. Do vậy, giống như doanh nghiệp cạnh tranh và không giống như doanh nghiệp độc quyền theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, nhà hoạch định xã hội nhân từ ấn định mức giá

bằng chỉ phí cận biên. Do mức giá này đem lại cho người tiêu dùng tín hiệu chính xác về chi phí sản xuất hàng hoá, nên anh ta mua mức sản lượng có hiệu quả.

Chúng ta có thể đánh giá hiệu ứng phúc lợi của độc quyền bằng cách so sánh mức sản lượng mà nhà độc quyền lựa chọn với mức sản lượng mà nhà hoạch định xã hội nhân từ lựa chọn. Như chúng ta đã thấy, nhà độc quyền quyết 377

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

định sản xuất và bán mức sản lượng mà tại đó đường doanh thu cận biên và đường chỉ phí cận biên cất nhau; nhà hoạch định xã hội nhân từ chọn mức sản lượng mà tại đó đường cầu và đường chỉ phí cận biên cắt nhau. Hình 15.8 minh hoạ cho sự so sánh này. Nhà độc quyển sản xuất ở mức thấp hơn sản lượng có hiệu quả xã hội.

Chúng ta cũng có thể xem xét tính chất không hiệu quả của độc quyền dưới góc độ giá độc quyền. Do đường cầu thị trường mô tả mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượng hàng, nên mức sản lượng thấp một cách không hiệu quả cũng chính là mức giá cao một cách không hiệu quả. Khi nhà độc quyền áp đặt mức giá cao hơn chi phí cận biên, một số người tiêu dùng tiểm tàng đánh giá hàng hoá cao hơn chỉ phí cận biên của nó nhưng thấp hơn giá độc quyền. Những người tiêu dùng này không mua hàng hoá nữa. Do giá trị mà họ gán cho hàng hoá lớn hơn chỉ phí cung ứng nó, nên kết quả này không hiệu quả. Do vậy, việc định giá cả của độc quyền cản trở một số hoạt động thương mại mang lại ích lợi cho cả hai bên.

Giá cả

Tổn thất Chi phí cận biên

**Doanh thu

¡ cận biên

t

Cầu

0 Sản lượng Sản lượng San hượng

độc quyền có hiệu quả

Hình 15.8. Tính chất không có hiệu quả cửa độc quyền. Đo doanh nghiệp độc quyển bán hàng hoá với mức giá cao hơn chỉ phí cận biên, nên không phải tất cả mọi người tiêu dùng đánh giá hàng hoá cao hơn chỉ phí cận biên đều mua nó. Do vậy, sản lượng sản xuất và bán ra của doanh nghiệp độc quyền thấp hơn mức có hiệu quả về mặt xã hội. Tổn thất tải trọng bằng diện tích của tam giác được tạo ra bởi đường câu (đường phản ánh giá trị của hàng hoá đối với người tiêu dùng), đường chỉ phí cận biên (đường phản ánh chỉ phí của nhà sản xuất

độc quyển) và đường thẳng đứng tại mức sản lượng mà nhà độc quyên quyết định sản xuất và bán ra.

378

Tương tự như cách xác định tính không hiệu quả của thuế bằng tam giác tổn thất tải trọng trong bài 8, chúng ta cũng có thể phản ánh tính chất không có hiệu quả của độc quyền. Hình 15.8 chỉ ra mức tổn thất tải trọng. Hãy nhớ lại rằng đường cầu phản ánh giá trị đối với người tiêu dùng và đường chi phí cận biên phản ánh chi phí đối với nhà sản xuất độc quyền. Bởi vậy, diện tích của tam giác tổn thất tải trọng nằm giữa đường cầu và đường chỉ phí cận biên bằng tổng mức thặng dư bị mất đi do cách định giá của nhà độc quyền.

Tổn thất tải trọng do độc quyền gây ra tương tự như tổn thất tải trọng của thuế. Dĩ nhiên, nhà độc quyền giống một nhà thu thuế tư nhân. Như chúng ta đã thấy trong bài 8, thuế đánh vào hàng hoá tạo ra chiếc nêm giữa mức độ sẵn sàng chỉ trả của người tiêu dùng (được phản ánh bằng đường cầu) và chỉ phí của nhà sản xuất (được phản ánh bằng đường cung). Do nhà độc quyền sử dụng sức

mạnh thị trường của mình bằng cách định giá cao hơn chi phí cận biên, nên nó cũng tạo ra một chiếc nêm tương tự. Trong cả hai trường hợp, chiếc nêm này đều làm cho sản lượng bán ra thấp hơn mức sản lượng tối ưu về mặt xã hội.

Điểm khác nhau giữa hai trường hợp chỉ là ở chỗ chính phủ nhận được nguồn thu từ thuế, trong khi doanh nghiệp tư nhân nhận được lợi nhuận độc quyền.

1. LỢI NHUẬN ĐỘC QUYỀN: MỘT TỔN THẤT XÃ HỘI?

Người ta rất dễ kết tội nhà độc quyền là "đầu cơ trục lợi” trên lưng công chúng. Và dĩ nhiên doanh nghiệp độc quyển kiếm được lợi nhuận rất lớn nhờ sức mạnh thị trường của nó. Song theo phân tích kinh tế về sự độc quyền, bản thân lợi nhuận của doanh nghiệp không nhất thiết phải là một vấn đề đối với xã hội.

Cũng giống như tất cả các thị trường khác, phúc lợi trên thị trường độc quyển bao gồm phúc lợi của cả người tiêu dùng và người sản xuất. Mỗi khi người tiêu dùng phải trả thêm một nghìn đồng cho người sản xuất do giá độc quyền cao hơn, thì anh ta bị thiệt một nghìn đồng, còn người sản xuất được lợi một nghìn đồng. Sự chuyển giao tiền từ người tiêu dùng hàng hoá sang cho người sở hữu doanh nghiệp độc quyền không hề ảnh hưởng đến tổng thặng dư của thị trường - bằng tổng của thặng dư của người tiêu dùng và thặng dư của người sản xuất. Nói cách khác, lợi nhuận độc quyền bản thân nó không phải là phần mất đi của chiếc bánh kinh tế: nó chỉ đơn thuần cắt phần lớn hơn cho nhà sản xuất và dành phần nhỏ hơn cho người tiêu dùng. Nếu bỏ qua trường hợp người tiêu dùng đáng được thưởng công hơn nhà sản xuất vì lý do nào đó - một

đánh giá vượt ra ngoài vương quốc của hiệu quả kinh tế - thì lợi nhuận độc quyền không phải là một vấn đề xã hội.

Vấn đề nảy sinh trên thị trường độc quyền chỉ là do doanh nghiệp sẵn xuất và bán mức sản lượng thấp hơn mức tối đa hoá tổng thặng dư. Tổn thất tải trọng phản ánh phần mất đi của chiếc bánh kinh tế. Tính chất không hiệu quả này liên

379

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

quan đến mức giá cao của độc quyền: người tiêu dùng mua ít hơn khi doanh nghiệp tăng giá lên cao hơn chỉ phí cận biên. Tuy nhiên, cần nhớ rằng lợi nhuận kiếm được trên các đơn vị sản phẩm tiếp tục được bán ra lại không phải là một vấn đẻ, mà vấn đề ở đây là do sản lượng thấp tới mức không có hiệu quả. Ngược lại, nếu mức giá cao của độc quyền không cần trở một số người tiêu dùng nào đó mua hàng hoá, thì nó sẽ làm tăng thặng dư của người sản xuất một lượng đúng bằng lượng giảm sút của thặng đư của người tiêu dùng và vì vậy tổng thặng dư không thay đổi, giống như trường hợp doanh nghiệp độc quyên chịu sự quần lý của nhà hoạch định xã hội nhân từ.

Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ đối với kết luận này. Giả sử doanh nghiệp độc quyền phải chịu thêm chỉ phí để duy trì vị thế độc quyền của mình.

Ví dụ, một doanh nghiệp nắm được độc quyền do chính phủ tạo ra phải thuê những người vận động hành lang để thuyết phục các nhà làm luật tiếp tục bảo đảm vị thế độc quyền cho nó. Trong trường hợp này, nhà độc quyền sử dụng một phần lợi nhuận độc quyền để trả cho những khoản chỉ phí phát sinh thêm.

Nếu như vậy, tổn thất tải trọng do độc quyền bao gồm cả những chị phí đó và phần tổn thất do giá cả cao hơn chi phí cận biên.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 370 - 374)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)