NHÀ KINH TẾ VỚI TỰ CÁCH NHÀ TƯ VẤN CHÍNH SÁCH

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 35 - 39)

Thông thường, các nhà kinh tế được yêu cầu lý giải nguyên nhân gây ra hiện tượng kinh tế nào đó. Chẳng hạn, họ phải lý giải tại sao tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên lại cao hơn công nhân trung niên? Đôi khi các nhà kinh tế được mời nêu ra những khuyến nghị chính sách để cải thiện tình hình kinh tế. Chẳng hạn, họ phải khuyến nghị chính phủ cần làm gì để cải thiện phúc lợi kinh tế của thanh niên, của người dân ở vùng sâu, vùng xa. Khi các nhà kinh tế tìm cách lý giải thế giới, họ là các nhà khoa học. Khi tìm cách góp phần cải thiện nó, họ là nhà tư vấn chính sách.

1. PHAN TICH THUC CHUNG VA CHUAN TAC

Để làm rõ hai vai trò nêu trên của nhà kinh tế, chúng ta hãy xem xét cách sử dụng ngôn ngữ. Vì nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách có mục tiêu khác nhau, nên họ sử dụng ngôn ngữ theo cách khác nhau.

Chẳng hạn có hai người đang bàn về luật tiền lương tối thiểu. Bạn có thể nghe thấy họ nói những lời sau đây:

THỰC: Luật tiền lương tối thiểu gây ra thất nghiệp.

CHUẨN: Chính phủ cần tăng tiền lương tối thiểu.

Tạm thời chúng ta chưa bàn đến việc bạn có đồng ý với các nhận định trên hay không, mà hãy chú ý rằng Thực và Chuẩn khác nhau ở điều mà họ tìm cách làm. Thực đang nói như một nhà khoa học: anh ta đang khẳng định phương thức vận hành của thế giới. Chuẩn đang nói như một nhà tư vấn chính sách: anh ta khẳng định điều mà anh ta muốn làm để thay đổi thế giới.

Nhìn chung các nhận định vẻ thế giới bao gồm hai loại. Một loại có tính thực chứng như nhận định của Thực. Các nhận định thực chứng mang tính chất mô ta. Chúng khẳng định rằng thế giới là như thế nào. Loại thứ hai có tính chuẩn tắc như khẳng định của Chuẩn. Các nhận định chuẩn tắc có tính chất khuyến nghị. Chúng khẳng định rằng thế giới cần phái như thế nào.

; Su khác biệt then chốt giữa nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc là cách chúng ta đánh giá tính chân thực của chúng. Về nguyên tắc, chúng ta có

thể xác nhận hoặc từ bỏ nhận định thực chứng bằng cách xem xét bằng chứng

36

Bài 2. Tư duy như một nhà kinh tế

thực tế. Nhà kinh tế có thể đánh giá nhận định của Thực bằng cách phân tích số liệu về những thay đối trong tiền lương thực tế và những thay đổi theo thời gian của thất nghiệp. Ngược lại, việc đánh giá nhận định chuẩn tắc liên quan đến cả các giá trị và thực tế. Không thể đánh giá nhận định của Chuẩn chỉ bằng cách sử dụng số liệu. Việc quyết định xem chính sách nào tốt và chính sách nào tôi không phải vấn dé thuần tuý khoa học. Nó còn gắn với quan điểm của chúng ta về đạo đức, tôn giáo và triết lý chính trị.

Dĩ nhiên, nhận định thực chứng và chuẩn tắc có mối quan hệ với nhau.

Quan điểm thực chứng của chúng ta vẻ phương thức vận hành của thế giới ảnh hưởng tới quan điểm chuẩn tắc của chúng ta vẻ việc chính sách nào đáng mong muốn. Nếu nhận định của Thực rằng tiền lương tối thiểu gây ra thất nghiệp là đúng, nó có thể đưa chúng ta đến việc từ bỏ kết luận của Chuẩn là chính phủ nên tăng tiền lương tối thiểu. Song các kết luận chuẩn tác của chúng ta không phải chỉ được rút ra từ phân tích thực chứng. Nó cần tới cả sự phân tích thực chứng và các đánh giá giá trị.

Khi nghiên cứu kinh tế học, bạn phải luôn luôn nhớ tới sự phân biệt giữa các nhận định thực chứng và chuẩn tắc. Nhiễu nội dung của kinh tế học chỉ nhằm lý giải cách thức vận hành của nên kinh tế. Nhưng mục tiêu của kinh tế học thường là cải thiện hoạt động của nền kinh tế. Khi nghe thấy các nhà kinh tế nêu ra nhận định chuẩn tắc, bạn biết rằng họ đã vượt qua ranh giới của khoa học và bước vào vương quốc của nhà tư vấn chính sách.

2, CÁC NHÀ KINH TẾ Ở OASINHTƠN

Một lần tổng thống Truman đã nói rằng ông muốn tìm ra một nhà kinh tế chỉ có một tay. Khi ông yêu cầu các nhà kinh tế của mình tư vấn, họ luôn luôn

nói “ Một mặt (nguyên văn tiếng Anh: tay này) ... mặt khác (tay kia), cà

Truman có lý khi nhận thấy rằng lời khuyên của các nhà kinh tế không phải lúc nào cũng rõ ràng. Xu thế này có cội nguồn ở một trong các nguyên lý của kinh tế học trong bài 1: Con người phải đối mặt với sự đánh đổi. Các nhà kinh tế ý thức được rằng sự đánh đổi có liên quan đến hầu hết các quyết định chính sách. Môt chính sách có thể làm tăng hiệu quả với cái giá phải trả là sự công bang. Nó có thể giúp cho thế hệ tương lai, nhưng lại làm tổn hại thế hệ hiện tại.

Nếu có nhà kinh tế nào đó nói rằng tất cả các quyết định chính sách đều dễ dàng, thì anh ta không phải là nhà kinh tế đáng tin cay.

Truman không phải là vi tổng thống duy nhất trông cậy vào sự tư vấn của các nhà kinh tế. Từ năm 1946, các tổng thống Mỹ đều nhận được sự trợ giúp của Hội đồng Tư vấn Kinh tế bao gồm ba thành viên và một biên chế với hàng tá nhà kinh tế. Hội đồng có trụ sở chỉ cách Nhà trắng vài bước này không có 37

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

nhiệm vụ nào khác hon là tu vấn cho Tổng thống Mỹ và viết Báo cáo kinh tế hàng năm của Tổng thống.

Tổng thống, thủ tướng ở các nước cũng nhận được sự tư vấn từ các nhà kinh tế công tác ở nhiều bộ khác nhau. Chẳng hạn, các nhà kinh tế ở Bộ Tài chính Mỹ hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách thuế. Các nhà kinh tế ở Bộ Lao động Mỹ phân tích số liệu về công nhân và những người đang tìm việc làm để hỗ trợ cho việc soạn thảo các chính sách đối với thị trường lao động.

Các nhà kinh tế ở Bộ Tư pháp Mỹ góp phần thực thi các đạo luật chống tờ rớt của đất nước.

Các nhà kinh tế còn hoạt động ở bên ngoài cơ quan hành chính của chính phủ. Để nhận được sự đánh giá độc lập vẻ các khuyến nghị chính sách, Quốc hội Mỹ trông cậy vào sự tư vấn của Văn phòng Ngân sách Quốc hội mà nhân viên của nó là các nhà kinh tế. Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ - Ngân hàng trung ương của Mỹ có nhiệm vụ định ra chính sách tiền tệ cho nước Mỹ - sử dụng hàng trãm nhà kinh tế để phân tích tình hình kinh tế Mỹ và trên toàn thế giới.

Ảnh hưởng của các nhà kinh tế đối với chính sách không chỉ dừng lại ở vai trò của họ với tư cách là nhà tư vấn. Các công trình nghiên cứu và bài viết của họ có tác động gián tiếp, nhưng mạnh mẽ tới chính sách của chính phủ.

Nhà kinh tế John Maynard Keynes, người khai sinh ra môn kinh tế vĩ mô, đã từng viết:

Tư tưởng của các nhà kinh tế và triết lý chính trị, cả khi nó đúng và khi nó sai lầm, đều có sức mạnh lớn hơn nhiều so với chúng ta tưởng. Dĩ nhiên, thế giới còn bị chỉ phối bởi một vài thứ khác nữa. Những người làm công tác thực tiễn tin rằng mình hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của giới trí thức thì thường lại là nô lệ của một nhà kinh tế tâm phào nào đó. Những kẻ khao khát quyền lực, nghe được cả lời phán truyền của chúa, lại chính là những người nuốt từng lời mà một học giả hạng hai nào đó đã viết vài năm về trước.

Mặc dù những lời trên được viết vào năm 1935, nhưng đến nay nó vẫn đúng. Dĩ nhiên, vị “học giả hạng hai” hiện đang tác động tới chính sách của chính phủ ở nhiều nước thường lại chính là Keynes.

3. TẠI SAO CÁC NHÀ KINH TẾ LẠI BẤT ĐỒNG VỚI NHAU?

Nhiều thế kỷ trước, các nhà thiên văn tranh luận về việc trái đất hay mặt trời nằm ở trung tâm của hệ mặt trời. Ngay mới gần đây thôi, các nhà khí tượng tranh luận về việc trái đất có đang rơi vào tình trạng “nóng lên toàn cầu” không và nếu đúng như vậy thì tại sao. Khoa học là một cuộc tìm kiếm để có thêm hiểu biết về thế giới quanh ta. Không có gì đáng ngạc nhiên rằng, khi cuộc tìm kiếm này tiếp diễn, các nhà khoa học có thể bất đồng với nhau về việc chân lý nằm ở hướng nào.

38

Bài 2. Tư duy như một nhà kinh tế

Các nhà kinh tế thường bất đồng vì lý do tương tự. Kinh tế học là một bộ môn khoa học non trẻ và còn phải học hỏi nhiều. Đôi khi các nhà kinh tế không nhất trí với nhau vì họ có nhận thức khác nhau về tính chân thực của các lý thuyết khác nhau và về quy mô của các tham số quan trọng.

Chẳng hạn, các nhà kinh tế bất đồng vẻ việc chính phủ nên đánh thuế căn cứ vào thu nhập của các hộ gia đình hay căn cứ vào tiêu dùng (tức chỉ tiêu) của họ.

Những người biện hộ cho việc chuyển từ thuế thu nhập hiện hành sang thuế tiêu dùng tin rằng sự thay đổi này khuyến khích các hộ gia đình tiết kiệm nhiều hon, vì phần thu nhập tiết kiệm không bị đánh thuế. Mức tiết kiệm cao hơn đến lượt nó lại làm cho năng suất và mức sống tăng với nhịp độ nhanh hơn. Những người biện hộ cho thuế thu nhập hiện hành tin rằng tiết kiệm của các hộ gia đình không phản ứng mạnh đối với những thay đổi trong luật thuế. Hai nhóm nhà kinh tế này có quan điểm chuẩn tắc khác nhau về hệ thống thuế, vì họ có quan điểm thực chứng khác nhau vẻ phản ứng của tiết kiệm đối với các kích thích phát sinh từ chính sách thuế.

4. NHUNG KHAC BIET TRONG GIA TRI

Giá sử cả anh An và Ba đều lấy một lượng nước như nhau từ cái giếng của một thị trấn. Để bảo dưỡng cái giếng, thị trấn đánh thuế vào cư dân của nó. Anh An có thu nhập 50 triệu đồng và bị đánh thuế 5 triệu đồng, tức 10 phần trăm thu nhập của anh ta. Anh Ba có thu nhập là 20 triệu đồng và bị đánh thuế 4 triệu đồng, tức 20 phần trăm thu nhập của anh ta.

Chính sách này có công bằng không? Nếu không, thì ai nộp thuế quá nhiều và ai nộp thuế quá ít? Chúng ta có cần lưu ý tới việc mức thu nhập thấp của Ba là do anh ta bị tật nguyễn hay do anh ta muốn làm diễn viên không? Chúng ta có cần lưu ý tới việc mức thu nhập cao của An là do anh ta được thừa kế nhiều của cải hay do anh ta sẵn sàng làm công việc nặng nhọc trong một thời gian đài không?

Đây là những vấn dé khó mà có nhiều khả năng mọi người sẽ bất đồng ý

kiến. Nếu thị trấn thuê hai chuyên gia để nghiên cứu xem nên đánh thuế cư dân của mình như thế nào để bảo dưỡng chiếc giếng, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy họ đưa ra những lời tư vấn khác nhau. -

Ví dụ đơn giản trên cho thấy tại sao đôi khi các nhà kinh tế bất đồng với nhau về chính sách của nhà nước. Như chúng ta đã biết trong phần bàn về phân tích thực chứng và chuẩn tắc, chính sách không thể đánh giá thuần tuý trên cơ sở khoa học. Các nhà kinh tế đưa ra những lời khuyên mâu thuẫn nhau đôi khi là vì họ có những giá trị khác nhau. Việc hoàn thiện khoa học kinh tế không cho

chúng ta biết An hay Ba đóng thuế quá nhiều.

39

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 35 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)