TỔN THẤT TẢI TRỌNG VÀ NGUỒN THU TỪ THUẾ

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 193 - 196)

NGHIÊN CÚU TÌNH HUỐNG: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TỔN THẤT TẢI

III. TỔN THẤT TẢI TRỌNG VÀ NGUỒN THU TỪ THUẾ

Hiếm khi thuế ổn định trong một thời gian dài. Các nhà hoạch định chính sách trong chính quyển huyện, tỉnh và trung ương luôn luôn tìm cách tăng khoản thuế này hoặc giảm khoản thuế khác. Vì vậy, chúng ta hãy tìm hiểu xem điểu gì xảy ra đối với sự tổn thất tải trọng và nguồn thu từ thuế khi quy mô của thuế thay đối.

196

Bài 8. Chi phí của việc đánh thuế

(a) Thuế thấp (b) Thuế trung bình

Giá

Tổn thất Cun:

oP subd tha ~~

P, từ thuế

fi 1 ' t 1 1 1

0 Q, Q, Lượng 0 Q; Q, Lượng

(c) Thuế cao

Tổn thất Cung

1 1 1

0 0, Q, Litong

Hình 8.6. Tén thất tải trọng và nguồn thu từ thuế với ba mức thuế khác nhau. Tổn thất tải trọng là sự giảm sút của tổng thặng dư do thuế gây ra.

Nguồn thụ từ thuế bằng mức thuế nhân với lượng hàng hoá bán ra. Trong phần (a), mức thuế thấp gây ra tốn thất tải trọng nhỏ và tạo ra nguồn thu thấp. Trong phân (b), mức thuế cao hơn mét chit gay ra tổn thất tải trọng lớn hơn và tạo ra nguồn thu cao hơn. Trong phân (c), mức thuế rất cao gây ra tổn thất tải trọng rất lớn, nhưng vì quy mô thị trường giảm rất nhiễu, nên thuế chỉ tạo ra nguồn thu tương đốt nhỏ.

Hình 8.6 chỉ ra ảnh hưởng của mức thuế thấp, vừa và cao trong khi đường

cung và đường cầu của thị trường không thay đổi. Tén that tai trong - tinh bang mức giảm sút của tổng thang du phát sinh khi thuế làm cho quy mô của thị 197

BA! GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

trường giảm xuống dưới mức tối ưu - bằng diện tích của tam giác nằm giữa đường cung và đường cầu. Đối với mức thuế thấp như trong phần (a), điện tích của tam giác phản ánh tổn thất tải trọng khá nhỏ. Nhưng khi quy mô của thuế tăng trong phần (b) và (c), tổn thất tải trọng ngày càng lớn.

Dĩ nhiên, tổn thất tải trọng do một khoản thuế tăng nhanh hơn mức thuế, Nguyên nhân ở đây là tổn thất tải trọng bằng điện tích của một tam giác, mà điện tích của một tam giác phụ thuộc vào bình phương quy mô của nó. Chẳng

hạn, nếu chúng ta tăng gấp đôi quy mô của một khoản thuế, cạnh đáy và chiều cao cha tam giác tăng gấp đôi, và vì vậy tổn thất tải trọng tăng gấp 4 lần. Nếu chúng ta tăng gấp 3 quy mô của một khoản thuế, thì cạnh đáy và chiều cao sẽ tăng gấp 3 và tổn thất tải trọng tăng gấp 9 lần.

Nguồn thu từ thuế của chính phủ bằng mức thuế nhân với lượng hàng bán ra. Như hình 8.6 cho thấy, nguồn thu từ thuế bằng phần diện tích của hình chữ nhật nằm giữa đường cung và đường cầu. Đối với mức thuế thấp trong phần (a), nguồn thu từ thuế nhỏ. Khi quy mô của một khoản thuế tăng từ phần (a) lên phần (b), nguồn thu từ thuế tăng. Nhưng khi quy mô của một khoản thuế tiếp tục tăng từ phần (b) lên phần (c), nguồn thu từ thuế giảm vì mức thuế cao làm cho quy mô thị trường giảm mạnh. Đối với mức thuế rất cao, nguồn thu hoàn toàn biến mất vì mọi người ngừng hoàn toàn việc mua bán hàng hoá.

(a) Tổn thất tải trọng (b) Nguồn thư từ thuế (đường Laffer)

Tổn thất tải trong Ne nen thu từ thuế

0 Mức thuế 0 Mức thuế

Hình 8.7. Sự thay đổi của tổn thất tải trọng và nguồn thu từ thuế khi quy mô của thuế thay đổi. Phẩn (a) chi ra rằng khi mức thuế tăng, tổn thất tải trọng cũng tăng. Phân (b) chỉ ra rằng ban đầu nguồn thụ từ thuế tăng, sau đó giảm. Mối quan hệ này đôi khi được gọi là đường Laffer.

198

Bai 8. Chi phí của việc đánh thuế

Hình 8.7 tóm tắt những kết quả này. Trong phần (a), chúng ta nhận thấy rằng khi quy mô của một khoản thuế tăng, mức tổn thất tải trọng của nó tăng lên nhanh chóng. Ngược lại, phần (b) cho thấy rằng nguồn thu từ thuế ban đầu tăng cùng với mức thuế; nhưng sau đó, khi thuế tiếp tục tăng, thị trường co lại nhiều đến mức nguồn thu từ thuế bắt đầu giảm.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 193 - 196)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)