"Người giàu ngày càng trở nên giàu hơn, còn người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn". Giống như như nhiều câu châm ngôn khác, câu châm ngôn này không phải lúc nào cũng đúng, nhưng thời gian gần đây thì đúng là như vậy.
Nhiều công trình nghiên cứu đã ghỉ nhận rằng khoảng cách thu nhập giữa những lao động có kỹ năng cao (lao động lành nghề) và những lao động có kỹ năng thấp (lao động giản đơn) ở Mỹ đã tăng trong vòng hai thập kỷ qua.
Bảng 19.1 ghi số liệu về mức thu nhập bình quân của những người tốt nghiệp đại học và những người chỉ tốt nghiệp trung học ở Mỹ. Những số liệu này phản ánh sự gia tăng của phần thưởng tài chính do giáo dục mang lại. Trong
471
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
năm 1978, tính bình quân lao động nam giới có bằng đại học nhận được thu nhập cao hơn 66% so với người không có bằng đại học. Vào năm 1998, con số này đã tăng tới 118%. Đối với phụ nữ, việc học đại học giúp cho tốc độ tăng thu nhập của họ tăng từ 55% lên 98%. Hiện nay, động cơ học lên cao hơn lớn hơn bất cứ lúc nào.
1978 1998
Nam giới | Tot nghiệp trung học, không học đại học 31.847 đô la ‡ 28.742 đô la Tốt nghiệp đại học 52.761 đô la | 62.588 đô la
% tăng thêm nhờ tốt nghiệp ĐH + 66% + 118%
Nữ giới Tốt nghiệp trung học, không học đại học 14.953 đô la | 17.898 đô la Tốt nghiệp đại học 23.170 đô la | 35.431 đô la
% tăng thêm nhờ tốt nghiệp ĐH + 55% + 98%
Ghi chú: Số liệu về thu nhập đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát và tính bằng đồng đô la năm 1998. Số liệu áp dung cho lao động từ 18 tuổi trở lên. Wguồn: Cục Dân số Mỹ.
Bảng 19.1. Thu nhập bình quân hàng năm phân theo trình độ giáo dục.
Những người tốt nghiệp đại học luôn kiếm được thu nhập cao hơn những lao động không có được lợi ích từ việc học đại học. Khoảng cách Hên lương này thậm chí còn mở rộng hơn vào những năm 1980 và 1990.
Tại sao khoảng cách thu nhập giữa lao động lành nghề và lao động giản đơn lại tăng trong những năm gần đây? Không ai biết chắc điều đó, song các nhà kinh tế đã đưa ra hai giả thuyết để lý giải xu thế này. Cả hai giải thuyết đều cho rằng theo thời gian, nhu cầu vẻ lao động lành nghề tăng nhanh hơn nhu cầu về lao động giản đơn. Sự dịch chuyển của đường cầu dẫn đến sự thay đổi tương
ứng trong tiên lương, và điều này đến lượt nó dẫn đến sự bất bình đẳng lớn hơn.
Giả thuyết thứ nhất cho rằng thương mại quốc tế đã làm thay đổi nhu cầu tương đối về lao động lành nghề và lao động giản đơn. Trong những năm gần đây, khối lượng thương mại của Mỹ với các nước khác đã tăng một cách đáng
kể. Nhập khẩu vào Mỹ tăng từ 5% tổng sản lượng của Mỹ trong năm 1970 lên
đến 13% trong năm 1998. Xuất khẩu của Mỹ tăng từ 6% trong năm 1970 lên đến 11% trong nam 1998. Do ở nhiều quốc gia khác lao động giản đơn rất sẵn và rẻ, nên Mỹ có xu hướng nhập khẩu hàng hoá được sản xuất bằng lao động giản đơn và xuất khẩu hàng hoá được sản xuất bằng lao động lành nghề. Do vậy khi thương mại quốc tế phát triển, nhu cầu trong nước về lao động lành nghề tăng, trong khi nhu cầu về lao động giản đơn giảm.
Giả thuyết thứ hai cho rằng những thay đổi trong công nghệ đã làm thay đối nhu cầu tương đối về lao động lành nghẻ và lao động giản đơn. Ví dụ, chúng ta hãy xem xét sự xuất hiện của máy tính. Máy tính đã làm tăng nhu cầu về lao động lành nghề, có thể sử dụng máy móc mới và làm giảm như cầu về lao động giản đơn, có việc làm được thay thế bằng máy tính. Ví dụ, hiện nay để lưu trữ- 478
Bài 19. Thu nhập và sự phân biệt đối xử
hồ sơ kinh doanh, các công ty dựa nhiều hơn vào cơ sở dữ liệu máy tính và Ít dựa vào tủ đựng hồ sơ. Sự thay đổi đó làm tăng nhu cầu sử dụng lập trình viên máy tính và làm giảm cầu sử dụng nhân viên lưu trữ hồ sơ. Do vậy khi có nhiều doanh nghiệp bắt đầu sử dụng máy tính, nhu cầu về lao động lành nghề tăng và nhu cầu về lao động giản đơn giảm.
Các nhà kinh tế nhận thấy rằng rất khó có thể xác định được tính hợp lý của các giả thuyết trên. Tất nhiên, có thể cả hai giả thuyết đều đúng: sự gia tăng hoạt động thương mại quốc tế và sự thay đổi công nghệ có thể đồng thời là nguyên nhân làm tăng mức độ bất bình đẳng mà chúng ta quan sát thấy trong những thập ký gần đây.
2. NANG LUC, NO LUC VA CO HO!
Tại sao cầu thủ bóng đá trong các giải nhà nghề lớn (ví dụ Anh, Ý, Tây Ban Nha) lại có thu nhập cao hơn cầu thủ bóng đá trong các giải nhà nghề nhỏ (ví dụ Bỏ Đào Nha, Tiệp)? Chắc chấn mức lương cao hơn của họ không phải là mức chênh lệch đền bù. Việc chơi bóng ở các giải nhà nghề lớn không phải là nhiệm vụ khó khăn hơn việc chơi bóng ở những giải nhà nghề nhỏ. Trên thực tế, điều ngược lại mới đúng. Các giải nhà nghề lớn không đòi hỏi số năm đến trường nhiều hơn hoặc giàu kinh nghiệm hơn. Phần lớn cầu thủ chơi trong các giải nhà nghề lớn kiếm được nhiều tiền hơn chỉ vì họ có năng lực tự nhiên cao hơn.
Năng lực tự nhiên đóng vai trd rat quan trọng đối với người lao động trong mọi ngành nghề. Do tính di truyền và sự nuôi dạy, mọi người thường khác nhau vẻ thể chất và tỉnh thần. Một số người rất khỏe, trong khi số khác lại yếu. Một số người thông minh, trong khi số khác lại không được như vậy. Một số người rất tự tin, trong khi số khác lúng túng trong các tình huống xã hội.
Những đặc điểm này cùng với nhiều đặc điểm cá nhân khác quyết định năng
suất của người lao động và do vay đóng vai trò quyết định đối với mức lương mà họ kiếm được.
N6 luc của người lao động có mối liên quan chặt chế với năng lực tự nhiên, Một số người làm việc rất chăm chỉ, trong khi một số khác lại lười nhác. Chúng
ta chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy rằng những người lao động chăm chỉ có năng suất cao hơn và do vậy có thu nhập cao hơn. Trong một chừng mực nào đó, doanh nghiệp thưởng công trực tiếp cho người lao động bằng cách dựa vào những gì mà họ làm ra. Ví dụ, người bán hàng được trả lương theo phần trăm doanh thu bán hàng. Trong khi đó, những công việc nặng nhọc thường được
thưởng công gián tiếp thông qua mức lương hàng năm cao hơn hoặc thông qua một khoản tiền thưởng.
479
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Cơ hội cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định tiền lương.