NHU CAU VE LAO DONG

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 445 - 451)

THỊ TRƯỜNG CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT

I. NHU CAU VE LAO DONG

Giống như các thị trường khác trong nên kinh tế, thị trường lao động chịu sự chỉ phối của lực lượng cung cầu. Nhận định này được minh hoạ bằng hình 18.1. Trong phần (a), cung và cầu về cam quyết định giá cam. Trong phần (b) cung và cầu vẻ số người hái cam quyết định giá cả hay điển lương của người hái cam.

452

Bài 18. Thị trường các nhân tố sản xuất

(a) Thị trường cam (b) Thị trường lao động hái cam

Giá cam Tiên lương

‘ung

P W

Cau

Q Lượng cam - Q_ Sốlao động hải cam

Hình 18.1 Tính chất dễ thay đổi của cung và cầu. Các công cụ cơ bản là

cung và câu được vận dụng cả cho hàng hoá và dịch vụ lao động. Phần (a) cho thấy cung và câu về cam quyết định giá cam như thế nào. Phần (b) cho thấy cung và câu về số lao động hái cam quyết định tiên lương của người hái cam nhự thế nào.

Như chúng ta đã đề cập tới, thị trường lao động khác với hầu hết các thị trường khác vì nhu cầu về lao động là loại nhu cầu phái sinh. Thay vì là những hàng hoá hoàn chỉnh sẵn sàng cho người tiêu dùng thưởng thức, hầu hết dịch vụ lao động là đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất ra hàng hoá khác. Cho nên, để hiểu được nhu cầu về lao động, chúng ta cần tập trung xem xét các doanh nghiệp thuê và sử dụng lao động để sản xuất ra hàng hoá phục vụ cho việc bán ra. Thông qua việc xem xét mối quan hệ giữa quá trình sản xuất hàng hoá và nhu cầu về lao động, chúng ta sẽ hiểu được cách xác định tiền lương cân bằng.

1. DOANH NGHIỆP CẠNH TRANH TỐI ĐA HOÁ LỢI NHUẬN

Chúng ta hãy tìm hiểu xem một doanh nghiệp điển hình, ví dụ nhà sản xuất cam, quyết định lượng cầu về lao động như thế nào. Doanh nghiệp này sở hữu một vườn cam và hàng tuần phải quyết định xem nên thuê bao nhiêu người hái cam. Sau khi nó đã thực hiện quyết định thuê người hái cam, thì người được thuê, gọi là người lao động, hái càng nhiều cam càng tốt. Sau đó doanh nghiệp bán số cam này, trả lương cho người lao động, giữ lại phần đôi ra và coi đó là lợi nhuận.

Chúng ta hãy đưa ra hai giả định về doanh nghiệp này. Thứ nhất, chúng ta

giả định rằng doanh nghiệp có tính cạnh tranh cả trên thị trường cam (khi doanh nghiệp là người bán hàng hoá) và trên thị trường lao động hái cam (khi doanh nghiệp là người mua dịch vụ lao động). Hãy nhớ lại rằng trong bài 14, chúng ta đã khẳng định rằng doanh nghiệp cạnh tranh là người chấp nhận giá.

453

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Bởi vì có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng bán cam và thuê lao động hái cam, cho nên một doanh nghiệp cá biệt có rất ít ảnh hưởng tới giá cam hoặc tiền lương trả cho lao động hái cam. Doanh nghiệp này phải chấp nhận giá cam và tiền lương do các điều kiện thị trường quy định. Nó chỉ có quyền quyết định số lao động sẽ thuê và số cam sẽ bán.

Thứ hai, chúng ta giả định rằng các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu rối đa hoá lợi nhuận. Do vậy, doanh nghiệp không trực tiếp quan tâm đến số lao động nó có hoặc số cam nó sản xuất ra. Nó chỉ quan tâm đến lợi nhuận, tức tổng doanh thu bán cam trừ tổng chỉ phí sản xuất cam. Cung về cam và cầu về lao động của doanh nghiệp đều xuất phát từ mục tiêu trước hết của nó là tối đa hoá

lợi nhuận.

2. HÀM SẢN XUẤT VÀ SẢN PHẨM CẬN BIÊN CỦA LAO ĐỘNG

Để đưa ra quyết định thuê lao động, doanh nghiệp phải xét xem quy mô của lực lượng lao động gây ra ảnh hưởng như thế nào đến lượng sản phẩm được sản xuất ra. Nói cách khác, nó phải xét xem số lao động hái cam ảnh hưởng như thế nào đến lượng cam thu hoạch và bán ra. Bảng 18.1 trình bày một ví dụ bằng số.

Cột đầu tiên ghi số người lao động. Cột thứ hai là lượng cam mà số lao động này hái được mỗi tuần.

Lao động |Sản lượng | Sản phẩm cận | Giá trị sản phẩm Tiền Lợi nhuận (người) (Giỏ/tuần) | biên củaLĐÐ | cận biên của LĐ lương cận biên

(Giỏ/tuần) (ng.đồng) (ng.đồng) | (ng.đồng)

L Q MPL = AQIAL | Vyp, =PxMPL Ww Az= Vự„- W

0 0

1 100 100 1000 500 500

2 180 80 800 500 300

3 240 60 600 500 100

4 280 40 400 500 -100

5 300 20 200 - 300 -300

Bảng 18.1. Doanh nghiệp cạnh tranh quyết định thuê lao động như thế nào.

Những con số trong hai cột này phản ánh năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Như chúng ta đã biết từ bài 13, các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ hàm sản xuất để phân ánh mối quan hệ giữa lượng đầu vào sử dụng trong sản xuất và sản lượng thu được từ quá trình sản xuất. Ở đây "đầu vào" là số người lao động hái cam và "sản lượng" là lượng cam. Các yếu tố đầu vào khác - cây cam, đất dai, xe tải, máy kéo của doanh nghiệp,... - tam thời được coi là không thay đổi.

Hàm sản xuất của doanh nghiệp cho thấy, nếu nó thuê một lao động, thì người lao động đó hái được 100 giỏ cạm mỗi tuần. Nếu doanh nghiệp thuê hai lao động, thì hai lao động làm việc cùng nhau hái được 180 giỏ cam mỗi tuần, v.v...

454

Bài 18. Thị trường các nhân tố sản xuất

Luong cam

Hàm sản xuất

wh---.+- 5 ' ' ' ' ' 1 1 1 1 ' '

t 1 1 1 1 ' 1

2 4 Số lao động hái cam

Hình 18.2. Hàm sản xuất. Hàm sẩn xuất chính là mối quan hệ giữa các đầu vào của quá trình sẵn xuất (người hái cam) và sản lượng của quá trình sẵn xuất đó (cam). Khi lượng đầu vào tăng, hàm sản xuất trở nên thoải hơn và điều này phản ánh quy luật sản phẩm cận biên giảm dân.

Hình 18.2 biểu thị bằng đồ thị số liệu về lao động và sản lượng ghi trong bảng 18.1. Số lao động được biểu thị trên trục hoành và sản lượng được biểu thị trên trục tung. Đây là một ví dụ minh hoạ cho hàm sản xuất.

Một trong các nguyên lý của kinh tế học giới thiệu trong bài 1 là: mọi người

suy nghĩ tại điểm cận biên. Ý tưởng này là chìa khoá để hiểu được cách ra quyết định về số lao động cần thuê của doanh nghiệp. Để từng bước đi đến quyết định đó, cột thứ ba trong bang 18.1 ghỉ sản phẩm cận biên của lao động, tức lượng sản phẩm tăng thêm từ việc thuê thêm một đơn vị lao động. Ví dụ, khi doanh nghiệp tăng số lao động từ 1 lên 2, số giỏ cam hái được tăng từ 100 lên 180. Do

vậy, sản phẩm cận biên của người lao động thứ hai là 80 giỏ cam.

Cần chú ý rằng khi số lao động tăng, sản phẩm cận biên của lao động giảm.

Như bạn đã biết từ bài 13, đặc tính này được gọi là quy luật sản phẩm cận biên giảm dần. Ban đầu, khi chỉ có một vài lao động được thuê, họ hái cam từ những

cây cam tốt nhất trong vườn. Khi số lao động tăng, số lao động tăng thêm phải hái cam từ những cây có ít quả hơn. Do vậy, khi càng có nhiều lao động được thuê, mỗi lao động thuê thêm đóng góp ngày càng ít hơn vào sản lượng cam. Vì lý do này, hàm sản xuất trong hình 18.2 trở nên thoải hơn khi số lao động tăng.

3. GIÁ TRỊ SẢN PHẨM CẬN BIÊN VÀ NHU CẦU VỀ LAO ĐỘNG

Doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận quan tâm đến tiền nhiều hơn là cam. Do vậy, khi quyết định số lao động cần thuê, doanh nghiệp cân nhấc xem mỗi lao 455

động thuê thêm mang lại bao nhiêu lợi nhuận. Vì lợi nhuận bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí, nên khoản lợi nhuận thu được từ một lao động thuê thêm bằng phần đóng góp vào doanh thu của anh ta trừ tiền lương trả cho anh ta.

Để xác định phần đóng góp vào doanh thu của lao động này, chúng ta phải chuyển sản phẩm cận biên của lao động (tính bằng số giỏ cam) thành giá trị sản phẩm cận biên (tính bằng tiền). Chúng ta thực hiện công việc này bằng cách sử dụng giá cam. Tiếp tục ví dụ của chúng ta, nếu một giỏ cam được bán với giá 10 nghìn đồng và nếu một lao động thuê thêm sản xuất ra được 80 giỏ cam, thì người lao động đó sẽ tạo ra được 800 nghìn đồng doanh thu.

Giá trị sẵn phẩm cận biên của bất kỳ đầu vào nào cũng bằng sản phẩm cận biên của đầu vào đó nhân với giá thị trường của sản phẩm. Cột thứ tư trong bảng 18.1 ghi giá trị sản phẩm cận biên của lao động trong ví dụ của chúng ta, với giả định giá một giỏ cam bằng !0 nghìn đồng. Do giá thị trường không thay đổi đối với doanh nghiệp cạnh tranh, nên giá trị sản phẩm cận biên (giống như sản phẩm cận biên) cũng giảm dần khi số lao động tăng.

Bây giờ chúng ta hãy tính xem doanh nghiệp cần thuê bao nhiêu lao động.

Giả sử mức lương thị trường của lao động hái cam là 500 nghìn đồng một tuần. Trong trường hợp này, người lao động thứ nhất mà doanh nghiệp thuê đem lại lợi nhuận: anh ta tạo ra 1000 nghìn đồng doanh thu, tức 500 nghìn đồng lợi nhuận. Tương tự như vậy, người lao động thứ hai tạo thêm 800 nghìn đồng doanh thu và 300 nghìn đồng lợi nhuận. Người lao động thứ ba tạo thêm 600 nghìn đồng doanh thu và 100 nghìn đồng lợi nhuận. Song sau người lao động thứ ba, việc thuê thêm lao động không đem lại lợi nhuận. Người lao động thứ tư chỉ mang lại thêm 400 nghìn đồng doanh thu. Vì tiền lương của người lao động này vẫn là 500 nghìn đồng, nên việc thuê lao động thứ tư đồng nghĩa với việc làm giảm 100 nghìn đồng lợi nhuận. Do vậy, doanh nghiệp chỉ thuê 3 lao động.

Việc xem xét quyết định thuê lao động của doanh nghiệp dưới đạng đồ thị tỏ ra dễ hiểu hơn. Hình 18.3 vẽ đường giá trị sản phẩm cận biên. Đường này dốc xuống vì sản phẩm cận biên của lao động giảm dần khi số lao động tăng.

Hình này cũng vẽ một đường nằm ngang tại mức lương thị trường. Để tối hoá lợi nhuận, doanh nghiệp thuê lao động cho tới khi hai đường này cắt nhau.

Dưới mức lao động được thuê này, giá trị sản phẩm cận biên lớn hơn tiền lương, do vậy việc thuê thêm lao động làm tăng lợi nhuận. Ở trên mức này, giá trị sản phẩm cận biên nhỏ hơn tiền lương, do vậy số lao động thuê thêm làm giảm lợi nhuận. Như vậy, doanh nghiệp cạnh tranh, tối đa hoá lợi nhuận sẽ thuê lao động cho tới khi giá trị sản phẩm cận biên của lao động bằng tiên lương.

456

Bài 18. Thị trường các nhân tố sản xuất

Giá trị sản phẩm cận biên

Mức lương thị trường

Giá trị sản phẩm cận biên (đường cầu về lao động) Lượng tối đa Số lao động hái cam hoá lợi nhuận

Hình 18.3. Giá trị sản phẩm cận biên của lao động. Hình này cho thấy giá trị sản phẩm cận biên (sản phẩm cận biên nhân với giá sản phẩm) phụ thuộc vào số lao động sử dụng như thế nào. Đường giá trị sản phẩm cận biên của lao động dốc xuống do quy luật sản phẩm cận biên giảm dân. Đối với doanh nghiệp cạnh tranh, tối da hod lợi nhuận, đường giá Ir sẵn phẩm cận biên cũng chính là đường câu về lao động của doanh nghiệp.

Sau khi đã lý giải xong chiến lược thuê lao động với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp cạnh tranh, giờ đây chúng ta có thể đưa ra lý thuyết về nhu cầu lao động. Hãy nhớ lại rằng đường cầu về lao động của doanh nghiệp cho chúng ta biết lượng cầu về lao động của doanh nghiệp tại các mức tiền lương. Chúng ta cũng vừa thấy trong hình 18.3, doanh nghiệp đưa ra quyết định đó bằng cách lựa chọn lượng lao động mà tại đó giá trị sản phẩm cận biên bằng tiền lương. Như vậy, đường giá trị sẵn phẩm cận biên chính là đường câu về lao động của doanh nghiệp cạnh tranh theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.

4. NHỮNG YẾU TỐ LÀM DỊCH CHUYỂN ĐƯỜNG CẦU VỀ LAO ĐỘNG

Giờ đây chúng ta đã hiểu được đường cầu về lao động: nó chỉ là sự phản ánh giá trị sản phẩm cận biên của lao động. Với hiểu biết này, chúng ta hãy tìm hiểu những nguyên nhân có thể gây ra sự dịch chuyển của đường cầu về lao động.

Giá sản phẩm

Giá trị sản phẩm cận biên bằng sản phẩm cận biên nhân với giá sản phẩm của doanh nghiệp. Do vậy, khi giá sản phẩm thay đổi, giá trị sản phẩm cận biên cũng thay đổi và đường cầu về lao động dịch chuyển. Ví dụ, sự gia tăng giá cam

làm tăng giá trị sản phẩm cận biên của mỗi lao động hái cam và do vậy làm tăng nhu cầu vé lao động của các nhà cung cấp cam. Trái lại, sự giảm sút của giá cam làm giảm giá trị sản phẩm cận biên và làm giảm nhu cầu về lao động.

457

ae

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Su thay déi céng nghé

Trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1998, năng suất của một lao động điển hình ở Mỹ tính theo giờ đã tăng 57%. Tại sao lại có điều này? Lý do quan trọng nhất là tiến bộ công nghệ: các nhà khoa học và kỹ sư Mỹ đã cho ra đời những phương pháp sản xuất mới hiệu quả hơn. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường lao động. Tiến bộ công nghệ đã làm tăng sản phẩm cận biên của lao động, do đó làm tăng nhu cầu về lao động. Những tiến bộ công nghệ này lý giải sự gia tăng của hoạt động tuyển dụng trong khi tiền lương tăng lên: mặc dù tiền lương (đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát) tăng 62% trong ba thập kỷ, nhưng số lao động được các doanh nghiệp sử dụng vẫn tăng 72%.

Cung về các nhân tố sản xuất khác

Lượng cung về một nhân tố sản xuất nào đó trong quá trình sản xuất cũng có thể ảnh hưởng đến sản phẩm cận biên của các nhân tố khác. Ví dụ, khi lượng cung về thang hái cam giảm, sản phẩm cận biên của lao động hái cam giảm, do vậy cầu về lao động hái cam cũng giảm. Chúng ta sẽ xem xét mối liên hệ giữa các nhân tố sản xuất chỉ tiết hơn trong phần sau của bài này,

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 445 - 451)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)