2, CHÍNH QUYỀN CÁC BANG VÀ ĐỊA PHƯƠNG

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 280 - 283)

Chính quyền các bang và địa phương thu khoảng 40% tổng số thuế. Chúng ta hãy xem họ thu thuế và chỉ tiêu như thế nào.

Nguồn thu

Bảng 12.5 ghi các khoản thu của chính quyền các bang và địa phương ở Mỹ.

Tổng thu trong năm 1996 là 1222 tỷ đó la. Vì dân số năm 1996 vào khoảng 265 triệu người, nên số tiền này tương đương với 46L5 đô la đầu người. Bảng 12.5 cũng chỉ ra sự phân bổ tổng số tiền này cho các loại thuế khác nhau.

Hai loại thuế quan trọng nhất của chính quyển các bang và địa phương là thuế tiêu thụ và thuế tài sản. Thuế tiêu thụ được tinh bang phần trăm của tổng số tiến chỉ tiêu mua hàng ở các cửa hàng bán lẻ. Mỗi lần khách hàng mua một cái gì đó, anh ta trả người thu tiền thêm một khoản mà sau đó người này sẽ chuyển cho Chính phủ. (Một số bang không thu thuế những hàng hoá được coi là thiết yếu như thực phẩm và quần áo). Thuế tài sản được tính bằng phần trăm giá trị ước tính của đất đai, công trình xây đựng và do người sở hữu tài sản đóng. Tổng cộng, hai loại thuế này chiếm gần một phần ba tổng các khoản thu của chính quyền bang và địa phương.

ơ Số tiền Số tiờn trờn đõu — Phần trăm trong Loại thuê (tỷ đô la) người (đô la) tổng thu

Thuế tiêu thụ 249 940 20

Thuế tài san 209 789 17

Thuế thu nhập cá nhân 147 554 12

Thuế thụ nhập công ty 32 121 3

Từ Chính phủ Liên bang 235 887 19

| Các khoản khác 351 1324 _- 29

Tổng 1.223 4.615 100

Nguồn: Báo cáo kinh tế của Tổng thống, 1999, bang B.86.

Bang 12.5. Nguồn thu của chính quyên các bang và địa phương: 1996.

Chính quyền các bang và địa phương cũng đánh thuế vào thu nhập cá nhân và công ty. Trong nhiều trường hợp, thuế thu nhập cá nhân và công ty của các bang và địa phương tương tự như thuế thu nhập liên bang. Nhưng cũng có

những trường hợp hoàn toàn khác. Ví dụ, một số bang đánh thuế thu nhập từ 285

tiền lương ít hon thu nhập từ lãi suất hay cổ tức. Một số bang không đánh thuế thu nhập.

Chính quyền các bang và địa phương cũng nhận được số tiên lớn từ Chính phủ Liên bang. Trong chừng mực nhất định, chính sách cấp phát ngân sách của Chính phủ Liên bang cho chính quyển các bang có tác dụng phân phối lại nguồn thụ từ các bang có thu nhập cao (những bang đóng nhiều thuế) cho các bang có thu nhập thấp (các bang nhận được nhiều kinh phí). Thông thường, những khoản tiền này gắn với một chương trình cụ thể mà Chính phủ Liên bang muốn tài trợ.

Cuối cùng, chính quyền các bang và địa phương có nhiều khoản thu từ các nguồn khác nhau được ghi gộp vào mục "các khoản khác" như trong bảng 12.5.

Những khoản này bao gồm phí phải trả để có giấy phép câu cá và đi săn, phí cầu đường, các loại vé xe buýt và xe điện ngầm.

Chỉ tiêu

Bảng 12.6 chỉ ra tổng chỉ tiêu của chính quyền các bang và địa phương năm 1996, cũng như cách phân loại các khoản chỉ tiêu này thành những mục lớn.

Rõ ràng khoản chỉ tiêu lớn nhất của chính quyền các bang và địa phương là chỉ cho giáo dục. Chính quyền địa phương cấp kinh phí cho các trường học công lập - hệ thống chịu trách nhiệm giáo dục phần lớn học sinh từ mẫu giáo đến cấp ba. Chính quyển bang hỗ trợ các trường đại học công lập. Năm 1996, kinh phí dành cho giáo dục chiếm một phần ba tổng chỉ tiêu của chính quyền các bang và địa phương.

Mục chi lớn thứ hai là chỉ cho phúc lợi công cộng, bao gồm các khoản trợ cấp thu nhập trực tiếp cho người nghèo. Khoản này bao gồm các chương trình của liên bang do chính quyền bang và địa phương quản lý. Khoản chỉ tiếp theo là chỉ cho đường cao tốc, bao gồm việc xây dựng các con đường mới và bảo dưỡng những con đường hiện có. "Các khoản chỉ khác" trong bảng 12.6 bao gồm nhiều dịch vụ phụ thêm do chính quyền các bang và địa phương cung cấp như thư viện, cảnh sát, thu nhặt rác, phòng chữa cháy, duy trì các bãi đỗ xe và don tuyết.

Loại Số tiên Số tiền tính trên Phần trăm trong

° (ty do la) đâu người (đô la) _ tổng chỉ tiêu

Giáo đục 339 1.506 3

Phúc lợi công cộng 197 743 17

Đường cao tốc Các khoản chỉ khác 518 79 1.955 298 33 7

Tổng 1.193 4.502 100

Nguồn: Báo cáo Kinh tế của Tổng thống, 1999, bang B.86

Bảng 12.6. Chỉ tiêu của chính quyền các bang và địa phương: 1996.

286

Bài 12. Thiết kế hệ thống thuế

II. THUẾ VÀ HIỆU QUÁ

Bây giờ, sau khi đã biết chính quyền các cấp của Mỹ thu và chỉ tiền như thế nào, chúng ta hãy nhau cùng đánh giá chính sách thuế của họ. Tất nhiên, mục đích của hệ thống thuế là tạo nguồn thu cho chính phủ. Song có nhiều cách để huy động được cùng một số tiền. Hãy chú ý rằng khi thiết kế chính sách thuế, các nhà hoạch định chính sách muốn đạt được hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng.

Một hệ thống thuế được coi là có hiệu quả hơn hệ thống thuế khác nếu nó thu được cùng một số tiền với chỉ phí thấp hơn. (Hãy chú ý rằng người đóng thuế phải chịu chi phí này dưới dạng mức thuế cao hơn.) Đối với người đóng thuế, thì chi phí của thuế là gì? Chỉ phí hiển nhiên nhất là bản thân khoản thuế phải nộp. Việc chuyển tiền từ người đóng thuế sang cho chính phủ là một thuộc tính không thể tránh khỏi của hệ thống thuế. Tuy nhiên, thuế cũng tạo ra nhiều chí phí khác mà chính sách thuế được thiết kế tốt cần phải tránh, hay ít nhất cũng phải giảm thiểu:

® - Những tổn thất tải trọng phát sinh từ việc thuế làm biến dạng sự lựa chọn của mọi người.

© - Những gánh nặng hành chính mà người đóng thuế phải chịu khi họ tuân thủ luật thuế.

1. TON THAT TAI TRONG

Thuế ảnh hưởng đến sự lựa chọn của mọi người. Nếu chính phủ đánh thuế kem, mọi người ăn ít kem hơn và ăn nhiều sữa chua đông lạnh hơn. Nếu chính phủ đánh thuế vào nhà ở, người dân sống trong những căn nhà nhỏ hơn và dành nhiều thu nhập của mình hơn cho những thứ khác. Nếu chính phủ đánh thuế thu nhập từ lao động, mọi người lao động ít hơn và nghỉ ngơi nhiều hơn.

Vì thuế làm biến dạng các kích thích, nên nó tạo ra tổn thất tải trọng. Như

chúng ta đã thảo luận trong bài 8, tổn thất tải trọng của một khoản thuế là phần

chênh lệch giữa phần ích lợi kinh tế bị giảm của người đóng thuế và số tiền mà chính phủ huy động được. Tén that tai trong 18 tình trạng phi higu qua ma thué tạo ra khi người dân phân bổ nguồn lực theo các kích thích phát sinh từ thuế, chứ không phải theo chi phi và ích lợi thực sự của hàng hoá và dịch vụ mà họ mua hoặc bán.

Để nhớ lai thuế tạo ra tổn thất tải trọng như thế nào, chúng ta hãy xem xét một ví dụ. Giả sử anh Ban đánh giá một chiếc bánh mỳ kẹp thịt là 3 nghìn đồng và cô Hoa đánh giá nó là 2 nghìn đồng. Nếu chính phủ không có thuế đánh vào bánh mỳ kẹp thịt, giá bánh mỳ kẹp thịt SẼ phản ánh chi phi làm bánh. Nếu giá chiếc bánh mỳ kẹp thịt bing | nghìn đồng, thì cả Ban va Hoa đều mua mỗi người một chiếc. Trong trường hợp này, cả hai người tiêu dùng đều thu dugc

mic thang du bằng phần giá trị vượt quá số tiền phải trả. Ban có được thặng dư 287

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

của người tiêu dùng bằng 2 nghìn đồng và Hoa có thặng dư của người tiêu dùng bằng 1 nghìn đồng. Tổng thặng dư của người tiêu dùng bằng 3 nghìn đồng.

Bây giờ, nếu chính phủ đánh thuế mỗi chiếc bánh mỳ kẹp thịt 1,5 nghìn đồng và giá bánh tăng lên 2,5 nghìn đồng. Ban vẫn mua một bánh mỳ kẹp thịt, nhưng bây giờ anh ta chỉ thu được 0,5 nghìn đồng thặng dư của người tiêu dùng.

Hoa không mua bánh mỳ kẹp thịt nữa vì giá của nó cao hơn giá trị mà cô gần cho nó. Chính phủ thu được số thuế là 1,5 nghìn đồng từ chiếc bánh mà Ban mua. Tổng thặng dư của người tiêu dùng giảm 2,5 nghìn đồng (từ 3 nghìn đồng xuống chỉ còn 0,5 nghìn đồng). Vì tổng thặng dư giảm nhiều hơn thuế thu được, nên thuế đã tạo ra tổn thất tải trọng. Trong trường hợp này, tổn thất tải trọng bằng 1,5 nghìn đồng.

Can chú ý rằng tổn thất tải trọng không phát sinh từ Ban, người nộp thuế, mà phát sinh từ Hoa, người không nộp thuế. Mức giảm thặng dư 1,5 nghìn đồng của Ban đúng bằng số tiền chính phủ thu được. Tổn thất tải trọng phát sinh là do việc đánh thuế làm cho Hoa thay đổi hành vi. Khi thuế làm tăng giá bánh mỳ kẹp thịt, phúc lợi của Hoa bị giảm và cũng không có khoản thu nào của chính phủ để bù lại khoản tổn thất này. Phần phúc lợi của Hoa bị giảm là tổn thất tải trọng của thuế.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 280 - 283)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)