NGHIEN CUU TINH HUONG NANG SUAT VA TIEN LUONG

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 457 - 461)

Một trong các nguyên lý của kinh tế học trong bài 1 là: mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nước đó. Bây giờ chúng ta thấy nguyên lý này vận hành như thế nào trên thị trường lao động. Cụ thể, phân tích của chúng ta về nhu cầu lao động cho thấy rằng tiền lương đúng bằng năng suất dưới dạng giá trị sản phẩm cận biên của lao động. Nói đơn giản, những lao động có năng suất cao được trả lương cao và những lao động có năng suất thấp được trả lương thấp.

Bài học này là chìa khoá để hiểu được tại sao người lao động ngày nay lại sống sung túc hơn các thế hệ trước. Bảng 18.2 ghi một vài số liệu về mức tăng năng suất và tiền lương ở Mỹ (đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát). Từ 1959 đến 464

Đài 18. Thị trường các nhân tố sản xuất

1997, năng suất tính bằng sản lượng trên một giờ lao động đã tăng khoảng 1,8%

mỗi năm; với tốc độ này, cứ sau khoảng 40 năm năng suất lại tăng gấp đôi.

Trong thời kỳ trên, tiền lương đã tăng với tốc độ tương tự là 1,7% một năm.

Bảng 18.2 cũng chỉ ra rằng từ khoảng năm 1973, sự gia tăng năng suất đã chậm lại và giảm từ 2,9 xuống chỉ còn 1,1% mỗi năm. Mức giảm 1,8 điểm phần trăm này của năng suất xảy ra đồng thời với mức giảm 1,9 điểm phần trăm của tốc độ tăng lương. Do năng suất giảm, người lao động trong những năm 1980 và 1990 không còn được hưởng tốc độ tăng mức sống nhanh như thế hệ cha mẹ họ.

Mức giảm 1,8 điểm phần trăm có thể không lớn, song do bị tích luỹ trong nhiều năm, nên sự thay đổi nhỏ trong tốc độ tăng năng suất cũng trở nên đáng kể. Nếu năng suất và tiền lương sau năm 1973 gia tăng với tốc độ như thời kỳ trước đó, thì thu nhập của người lao động bây giờ đã cao hơn khoảng 50% so với hiện nay.

Thời kỳ Tốc độ tăng năng suất Tốc độ tăng tiền lương thực tế

1959-1997 1,8 1,7

1959-1973 2,9 2,9

1973-1997 1,1 1,0

Bảng 18.2. Tốc độ tăng năng suất và tiên lương ở Mỹ. Nguồn: Báo cáo Kinh tế của Tổng thống 1999 (Mỹ), bảng B.49, trang 384. Tốc độ tăng năng suất ở đây được tính bằng tốc độ thay đổi hàng năm của sản lượng trên giờ ở khu vực phi nông nghiệp. Tốc độ tăng tiền lương thực tế được tính theo sự thay đổi tiền lương hàng năm trong khu vực phi nông nghiệp chia cho chỉ số điều chỉnh GDP ngầm định của khu vực đó. Những số liệu về năng suất này phản ánh năng suất bình quân - số lượng sản phẩm chia cho số lao động - chứ không phải năng suất cận biên. Tuy nhiên, người ta cho rằng năng suất bình quân và năng suất cận biên thay đổi với tốc độ như nhau.

Mối liên hệ giữa năng suất và tiền lương cũng phân ánh đúng tình hình thực tế trên thế giới. Bảng 18.3 ghỉ một vài số liệu về tốc độ tăng năng suất và tiền lương của một nhóm nước đại diện, được xếp hạng theo tốc độ tăng năng suất.

Mặc dù những số liệu quốc tế ở đây không có độ chính xác cao, nhưng mối liên hệ chặt chẽ giữa hai biến số này thể hiện khỏ rừ ràng. ệ Hàn Quốc, Hồng Kụng và Singapore, năng suất đã tăng rất nhanh và tiền lương cũng vậy. Ở Mêhicô, Achentina và Iran, năng suất đã giảm và tiền lương cũng giảm. Nước Mỹ rơi vào khoảng giữa của phân phối này: theo tiêu chuẩn quốc tế, sự gia tăng năng suất và tiền lương ở Mỹ không thuộc diện quá kém, nhưng cũng không quá tốt.

Nguyên nhân nào đã làm cho năng suất và tiền lương biến động mạnh giữa các thời kỳ và giữa các nước? Để có được lời giải đáp hoàn chỉnh cho câu hỏi này, chúng ta cần một bản phân tích về tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và đây là chủ đề vượt ra ngoài giới hạn của bài này. Tuy nhiên, chúng ta có thể tóm tắt ba nhân tố có ý nghĩa quan trọng đối với năng suất:

465

e Tư bản hiện vật: Khi người lao động làm việc với khối lượng thiết bị và kết cấu hạ tầng lớn hơn, họ sẽ sản xuất nhiều hơn.

e Vốn nhân lực: Khi người lao động có trình độ đào tạo cao hơn, họ sẽ sản xuất nhiều hơn.

ô — Trị thức cụng nghệ: Khi người lao động cú kha nang tiếp cận cộng nghệ tỉnh

vi hon, ho sẽ sản xuất nhiều hơn.

Tư bản hiện vật, vốn nhân lực và trị thức công nghệ là những yếu tố cơ bản của hầu hết những chênh lệch về năng suất, tiền lương và mức sống.

Tên nước Tốc độ tăng năng suất Tốc độ tăng tiền lương thực tế

Hàn Quốc 8.5 7,0

Hồng Kông 5,5 49

Xingapo 5,3 5,0

Inđônêxia 4,0 44

Nhat 3,6 2,0

Ấn độ 3,1 3,4

Anh 2,4 2,4

My 1,7 0,5

Braxin 0,4 -2,4

Mehicô -0,2 -3,0

Achentina -0,9 -1,3

Tran -1,4 -7,9

Bảng 18.3. Tốc độ tăng năng suất và tiền lương trên thế giới. Nguồn: Báo

cáo Phát triển Thế giới 1994, bảng 1, trang 162-163 và bảng 7, trang 174-175.

Tốc độ tăng năng suất ở đây được tính bằng tốc độ thay đổi hàng năm của tổng sản phẩm quốc đân bình quân đầu người từ 1980 đến 1992. Tốc độ tăng tiền lương thực tế được tính bằng mức thay đổi hàng năm của thu nhập trên một lao động trong ngành chế biến từ 1980 đến 1991.

IV. CÁC NHÂN T6 SAN XUẤT KHÁC: DAT BAI VA TU BAN

Chúng ta đã biết được các doanh nghiệp quyết định số lao động cần thuê và các quyết định này quyết định tiền lương như thế nào. Đồng thời, khi các doanh nghiệp thuê lao động, họ cũng đưa ra quyết định về các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất. Ví dụ, doanh nghiệp cung cấp cam phải lựa chọn quy mô vườn cam và số lượng thang hái cam cho lao động hái cam. Mọi nhân tố sản xuất của các doanh nghiệp đều rơi vào một trong ba phạm trù: lao động, đất đai và tư bản.

Ý nghĩa của thuật ngữ lzo động và đất đai rất rõ ràng, song định nghĩa về f bản có đôi chút phức tạp. Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ t bản để chỉ khối lượng trang thiết bị và kết cấu hạ tầng được sử dụng trong quá trình sản xuất.

Điều này hàm ý tư bản của nên kinh tế chính là sự tích luỹ hàng hoá được sản 466

Bài 18. Thị trường các nhân tố sản xuất

xuất ra trong quá khứ, hiện đang được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ mới. Đối với doanh nghiệp sản xuất cam trong ví dụ của chúng ta, khối lượng tư bản bao gồm thang được sử dụng để trèo lên hái cam, chiếc xe tải được sử dụng để vận chuyển cam, nhà kho được sử dụng để bảo quản cam và ngay cả những cây cam.

1. TRẠNG THÁI CÂN BẰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG ĐẤT ĐẠI VÀ TƯ BẢN Điều gì quyết định thu nhập của chủ sở hữu đất đai và tư bản cho những đóng góp của họ đối với quá trình sản xuất? Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phân biệt rõ hai loại giá cả: giá mua và giá thuê. Giá mua đất đai và tư bản là giá mà một cá nhân trả để có quyên sở hữu mãi mãi các nhân tố sản xuất đó. Giá thuê là giá mà một cá nhân trả để có quyền sử dụng nhân tố sản xuất đó trong một khoảng thời gian nhất định. Điều quan trọng là phải luôn nhớ được sự khác biệt này, bởi vì như bạn sẽ thấy, những loại giá này được xác định bởi những lực lượng kinh tế đôi khi rất khác nhau.

{a) Thị trường đất đai (b) Thị trường tư bản

Giá thuê

dat dai Cung Giá thuê

tư bản

Q — Lượng đất đai 1 1t 1 1 1 1 1 1 Cầu Q_ Lượng trbản

Hình 18.7. Thị trường đất đai và tư bản. Cung và cầu quyết định số tiền phải trả cho người sở hữu đất, như được trình bày trong phần (a) và số tiên phải trả cho chủ sở hữu tư bản như được trình bày trong phần (b). Cầu về mỗi nhân tố phụ thuộc vào giá trị sản phẩm cận biên của nhân tố đó.

Sau khi định nghĩa được các thuật ngữ này, giờ đây chúng ta có thể đem lý thuyết về cầu nhân tố sản xuất mà chúng ta đã thiết lập cho thị trường lao động

để áp dụng cho thị trường đất đai và tư bản. Tiền lương đơn giản là giá thuê lao động. Do vậy, phần lớn những gì chúng ta biết được trong quá trình xác định tiền lương cũng có thể áp dụng cho giá thuê đất đai và tư bản. Như hình 18.7 467

cho thấy, giá thuê đất đai ở phần (a) và giá thuê tư bản ở phần (b) được xác định bởi cung và cầu. Ngoài ra, cầu về đất đai và tư bản được xác định giống như cầu vẻ lao động. Nghĩa là, khi đoanh nghiệp sản xuất cam của chúng ta xác định diện tích đất đai và số thang hái cam cần thuê, nó cũng tuân theo lô gích tương tự như khi quyết định xem nên thuê bao nhiêu lao động. Đối với cả đất đai và tư bản, doanh nghiệp tăng lượng thuê cho tới khi giá trị sản phẩm cận biên của mỗi nhận tố bằng giá của nhân tố đó. Do vậy, đường cầu về mỗi nhân tố phản ánh năng suất cận biên của nhân tố đó.

Bây giờ chúng ta có thể lý giải việc người lao động, người sở hữu đất đai và chủ sở hữu tư bản kiếm được bao nhiêu thu nhập. Trong chừng mực mà doanh nghiệp sử dụng các nhân tố sản xuất có tính cạnh tranh và theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, thì giá thuê của mỗi nhân tố phải bằng giá trị sản phẩm cận biên của nhân tố đó. Lao động, đất đại và tư bản kiếm được lượng thụ nhập bằng giá trị đóng góp cận biên của chúng vào quá trình sản xuất.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét giá mua của đất đai và tư bản, Giá thuê và giá mua rõ ràng có quan hệ với nhau: người mua sẵn sàng trả nhiều hơn để mua một

mảnh đất hay tư bản nếu nó tạo ra một dòng thu nhập đáng kể từ tiền thuê. Và

như chúng ta vừa thấy, thu nhập từ tiền thuê cân bằng tại bất kỳ thời điểm nào cũng bằng giá trị sản phẩm cận biên của nhân tố đó. Do vậy, giá mua cân bằng của một mảnh đất hay tư bản phụ thuộc vào cả giá trị sản phẩm cận biên hiện tại và giá trị sản phẩm cận biên dự kiến trong tương lai.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 457 - 461)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)