NGHIÊN CUU TINH HUONG: DUONG LAFFER VA KINH TE HOC TRONG CUNG

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 196 - 199)

Vào một ngày trong năm 1974, nhà kinh tế A. Laffer ngồi ở nhà hàng với một số nhà báo và chính khách có tên tuổi. Ong trải chiếc khăn 4n ra và vẽ một hình lên trên đó để chỉ ra tác động của thuế suất (hay mức thuế, quy mô của thuế) tới nguồn thu từ thuế. Nó khá giống với phần (b) trong hình 8.7 của chúng ta. Sau đó, Laffer nói rằng nước Mỹ nằm ở phần đi xuống của đường này. Ông cho rằng hiện nay các loại thuế suất ở Mỹ cao đến mức mà việc cắt giảm chúng sẽ làm tăng nguồn thu từ thuế,

Hầu hết các nhà kinh tế đều nghỉ ngờ nhận định của Laffer. Về mặt lý thuyết, ý tưởng cho rằng biện pháp cắt giảm thuế có thể làm tăng nguồn thu từ thuế là đúng, Nhưng nhiều người cho rằng thực tế có thể không đúng như vậy.

Có rất ít bằng chứng ủng hộ quan điểm của Laffer cho rằng các loại thuế suất của Mỹ thực sự đã đạt tới mức cực đoan như vậy.

Nhưng dù sao đi nữa, đường Laƒƒer (sau này nó nổi tiếng dưới cái tên này) cũng nắm bắt được trí tưởng tượng của R. Rigân. David Stockman, Vụ trưởng Vụ Ngân sách trong chính quyền Rigân, đã kể một câu chuyện như sau:

Chính [Rigân} đã từng nằm trên đường Laffer. Ong luôn luôn nói: "Tôi nhớ lại những bức tranh đem lại Khoản Tiên Lớn trong Thế chiến II". Vào thời kỳ đó, mức thuế thu nhập tạm thu trong thời chiến lên tới 90 phần trăm. Ông tiếp

tục: “Bạn chỉ cân vẽ 4 bức tranh và sau đó được xếp vào nhóm thuế cao nhất.

Vì vậy, tất cả chúng tôi đêu bỏ việc sau khi vẽ 4 bức tranh và đi đã ngoại về

vùng nông thôn ”. Múc thuế cao làm cho mọi người làm việc ít hơn. Mức thuế thấp làm cho mọi người làm việc nhiều hơn. Kinh nghiệm của ông đã chứng mình điều đó.

Khi Rigân tranh cử tổng thống vào năm 1980, ông coi chính sách cắt giảm thuế là bộ phận cấu thành khẩu hiệu tranh cử của mình. Rigân lập luận rằng thuế đã cao đến mức làm cho mọi người không muốn làm việc chăm chỉ. Theo ông, mức thuế thấp hơn sẽ tạo ra động lực cho mọi người làm việc, qua đó làm

tăng phúc lợi kinh tế và có lễ cả nguồn thu từ thuế. Vì việc cắt giảm thuế suất là 199

BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ VI MÔ

nhằm khuyến khích mọi người tăng lượng lao động (tác động vào mặt cung của thị trường) mà họ cung ứng, nên quan điểm của Laffer và Rigân nổi tiếng với cái tên là kinh tế học trọng cưng.

Lịch sử đã phủ nhận quan điểm của Laffer cho rằng thuế suất thấp hơn sẽ làm tăng nguồn thu từ thuế. Sau khi trúng cử, Rigân cắt giảm thuế và hậu quả là nguồn thu từ thuế thấp hơn, chứ không phải cao hơn. Nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân (tính theo đầu người sau khi đã loại trừ lạm phát) giảm 9 phần trăm từ năm 1980 đến 1984, mặc dù thu nhập bình quân (cũng tính theo đầu người sau khi đã loại trừ lạm phát) tăng 4 phần trăm trong cùng thời kỳ. Cùng với việc các nhà hoạch định chính sách không sẵn sàng hạn chế chỉ tiêu, biện pháp cắt giảm thuế đã mở đầu một thời kỳ dài trong đó Chính phủ Mỹ chỉ tiêu nhiều hơn số thuế thu được. Trong suốt hai nhiệm kỳ của Rigân và nhiều năm sau, Chính phủ Mỹ phải chịu những mức thâm hụt ngân sách lớn.

Song luận điểm của Laffer không hóàn toàn vô nghĩa. Mặc dù việc cất giảm tất cả các loại thuế suất thường làm giảm nguồn thu, nhưng đồng thời một số người nộp thuế lại ở phần sai lầm của đường Laffer. Vào năm 1980, nguồn thu từ thuế thu được từ những người Mỹ giàu nhất, những người phải đối mặt với

thuế suất cao, đã tăng khi mức thuế của họ được cất giảm. Ý tưởng cho rằng việc cắt giảm thuế làm tăng nguồn thu có thể đúng nếu được vận dụng đối với

những người nộp thuế phải chịu thuế suất cao nhất. Ngoài ra, luận điểm của Laffer có thể đễ hiểu hơn khi vận dụng vào các nước khác, nơi có thuế suất cao hơn nhiều so với nước Mỹ. Chẳng hạn vào đâu những năm 1980, một công nhân điển hình ở Thuy Điển phải đối mặt với thuế suất cận biên bằng khoảng 80 phần trăm. Mức thuế cao như vậy làm cho rất nhiều người không còn động cơ làm việc. Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng Thuy Điển chắc chắn sẽ thu được nhiều thuế hơn khi giảm thuế suất của mình.

Những ý tưởng trên thường xuất hiện trong các cuộc tranh luận chính trị.

Khi B. Clintơn chuyển đến Nhà Trắng vào năm 1993, ông đã tăng thuế thu nhập Liên bang đánh vào những người có thu nhập cao lên khoảng 40 phần trăm. Một:

số nhà kinh tế phê phán chính sách này và họ lập luận rằng kế hoạch đó sẽ không làm tăng nguồn thu nhiều như chính quyển Clintơn dự kiến. Họ quả quyết răng chính quyền không tính hết sự thay đổi hành vị mà thuế gây ra.

Ngược lại, khi thách thức Chintơn trong cuộc bầu cử năm 1996, Bob Dole dự kiến cắt giảm thuế thu nhập cá nhân. Mặc dù Dole bác bỏ ý tưởng cho rằng các biện pháp cắt giảm thuế không làm giảm nguồn thu, nhưng ông quả quyết sẽ thu lại được 2§ phần trăm mức cắt giảm thuế vì thuế suất thấp hơn sẽ dẫn tới tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. Các nhà kinh tế tranh luận về việc dự toán 28 phần trăm của Dole có hợp lý không, có quá lạc quan không hoặc (như đường Laffer cho thay) có quá bi quan không.

200

Bài 8. Chi phí của việc đánh thuế

Các nhà hoạch định chính sách bất đồng về những vấn để này một phần là vì họ bất đồng với nhau về quy mô của các hệ số co giãn tương ứng. Cung và cầu trên một thị trường càng co giãn, thuế càng làm biến dạng hành vi trên thị trường đó và biện pháp cắt giảm thuế càng có nhiều khả năng làm tăng nguồn thu từ thuế. Tuy nhiên, không có cuộc tranh luận nào về bài học chung: không thể tính được việc chính phủ được hay mất bao nhiêu nguồn thu từ một sự thay đổi thuế nếu chỉ nhìn vào thuế suất. Nó còn phụ thuộc vào chỗ sự thay đổi của thuế tác động tới hành vi của mọi người như thế nào.

IV. KET LUAN

Như một lần O.W. Holmes đã nói, thuế là cái giá mà chúng ta phải trả cho xã hội văn minh. Dĩ nhiên, xã hội chúng ta không thể tồn tại nếu không có một đạng thuế nào đó. Tất cả chúng ta đều hy vọng chính phủ cung cấp những dịch vụ nhất định, chẳng hạn đường xá, công viên, an ninh và quốc phòng. Để cung cấp những dịch vụ công cộng này, chính phủ cần tới nguồn thu từ thuế.

Bài này đã làm sáng tỏ ở mức độ nào đó về việc cái giá của xã lội văn minh..

cao đến mức nào. Một trong các nguyên lý của kinh tế học trình bày trong bai | là: thị trường thường là cách tốt để tổ chức các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, khi chính phủ đánh thuế vào người bán hoặc người mua một hàng hoá, xã hội bị

mất một số mối lợi vẻ hiệu quả thị trường. Thuế gây ra tổn thất đối với những

người tham gia thị trường không phải chỉ vì thuế chuyển nguồn lực từ họ sang cho chính phủ, mà còn vì chúng làm thay đổi các kích thích và làm biến dạng các kết cục thị trường.

TOM TAT

Khoản thuế đánh vào một hàng hoá làm giảm phúc lợi của người mua và người bán hàng hoá đó. Sự giảm sút thặng dư của người sản xuất và người tiêu dùng thường vượt quá nguồn thu mà chính phủ nhận được. Mức giảm sút tổng thặng dư - tức tổng thặng dư của người sản xuất, của người tiêu dùng và nguồn thu từ thuế - được gọi là tổn thất tải trọng do thuế.

Thuế gây ra tổn thất tải trọng vì chúng làm cho người mua tiêu dùng ít hơn và người bán sản xuất ít hơn. Sự thay đổi này trong hành vi làm cho quy mô của thị

trường giảm xuống dưới mức làm tối đa hoá tổng thặng dư. Vì hệ số co giãn của cung và cầu cho biết mức độ phản ứng của những người tham gia thị trường đối với những điều kiện của thị trường, nên hệ số co giãn càng lớn, tổn thất tải trọng

càng lớn.

201

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Khi một khoản thuế càng lớn, nó càng làm biến dạng các kích thích nhiều hơn và tổn thất tải trọng càng lớn. Ban đầu nguồn thu từ thuế tăng cùng với quy mô của thuế. Nhưng mức thuế cao hơn có thể làm giảm nguồn thu từ thuế vì nó làm giảm quy mô của thị trường.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 196 - 199)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)