Mặc dù các nhà thiểu quyền muốn thành lập các-ten để thu lợi nhuận độc quyền, nhưng điều đó thường khó xảy ra. Như sẽ thảo luận ở mục sau của bài này, luật chống độc quyền thường nghiêm cấm sự thoả thuận công khai giữa các nhà thiểu quyền. Ngoài ra trong nhiều trường hợp, sự tranh cãi giữa các thành viên của các-ten về cách phân chia lợi nhuận làm cho nhiều thoả thuận giữa họ không thể thực hiện được. Do vậy, chúng ta sẽ xem xét điều gì xây ra nếu như Đoàn và Dự có quyết định độc lập về lượng nước sản xuất.
Mới nhìn qua, mọi người dự đoán rằng Đoàn và Dự sẽ liên kết thành nhà độc quyền nhóm vì kết cục này cho phép tối đa hoá tổng lợi nhuận của họ. Tuy nhiên, nếu không có sự thoả thuận mang tính ràng buộc nào, kết cục độc quyền không thể xảy ra. Để biết tại sao, chúng ta hãy giả sử rằng Đoàn dự đoán rằng Dự chỉ sản xuất 30 mét khối (một nửa sản lượng độc quyền). Khi đó, Đoàn có
thể nghĩ ““Ta cũng có thể sản xuất 30 mét khối. Trong trường hợp này tổng cộng
60 mét khối nước được bán với giá 6 nghìn đồng/mét khối. Lợi nhuận của ta là 180 nghìn đồng (30 mét khối x 6 nghìn đồng một mét khối). Nhưng ta cũng có thể sản xuất 40 mét khối. Trong trường hợp này có tổng cộng 70 mét khối nước được bán với giá 5 nghìn đồng/mét khối. Lợi nhuận của ta là 200 nghìn đồng (40 mét khốix5 nghìn đồng/mét khối). Tuy rằng lợi nhuận của cả thị trường giảm, nhưng lợi nhuận của riêng ta cao hơn, vì ta có thị phần lớn hơn.”
Tất nhiên là Dự cũng có thể nghĩ như thế. Nếu vậy, cả Đoàn và Dự cùng
cung 40 mét khối nước cho thành phố. Tổng lượng bán ra sẽ là 80 mét khối và giá giảm xuống còn 4 nghìn đồng một mét khối. Cho nên, nếu từng nhà nhị quyển theo đuổi lợi ích cá nhân trong việc ra quyết định sản xuất, tổng sản lượng của họ sẽ lớn hơn sản lượng độc quyền, giá bán sẽ thấp hơn giá độc quyền và tổng lợi nhuận thu được phải ít hơn lợi nhuận độc quyền.
Mặc dù lô gích về lợi ích cá nhân làm sản lượng của thị trường nhị quyền cao hơn sản lượng độc quyền, nhưng nó không thúc đây các nhà nhị quyền đạt tới sự phân bổ mang tính cạnh tranh. Chúng ta hãy xem điều gì xây ra nếu các nhà nhị quyền sản xuất mỗi người 40 mét khối. Giá sẽ là 4 nghìn đồng và mỗi - nhà thiểu quyền thu được lợi nhuận bằng 160 nghìn đồng. Trong trường hợp này, lô gíc lợi ích cá nhân của Đoàn dẫn anh ta đến một kết luận khác: “Hiện nay lợi nhuận của ta là 160 nghìn đồng. Giả sử ta tăng sản lượng lên 50 mét khối. Trong trường hợp đó, có tổng cộng 90 mét khối được sản xuất và bán với 403
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
giá 3 nghìn đồng một mét khối. Như vậy lợi nhuận của ta chỉ là 150 nghìn đồng. Thay vì tăng sản lượng và làm giảm giá, ta có lợi hơn nếu giữ mức sản lượng ở 40 mét khối.”
Kết cục mà trong đó Đoàn và Dự mỗi người sản xuất 40 mét khối giống như một loại cân bằng nào đó. Trong thực tế, kết cục này được gọi là cân bằng Nash (đặt theo tên nhà kinh tế John Nash). Cân bằng Nash là tình huống trong đó các chủ thể kinh tế tương tác với nhau, mỗi người lựa chọn một chiến lược tốt nhất cho mình khi biết được chiến lược mà đấu thủ đã chọn. Trong trường hợp như vậy, khi biết Dự sản xuất 40 mét khối, thì chiến lược tốt nhất đối với Đoàn là sản xuất 40 mét khối. Tương tự như vậy, khi biết rằng Đoàn sản xuất 40 mét khối, thì chiến lược tốt nhất đối với Dự là sản xuất 40 mét khối. Một khi đã đạt được trạng thái cân bằng Nash, cả Đoàn và Dự đều không có động cơ để đưa ra quyết định khác hay thay đổi hành vi của mình. ‘
Đây là ví dụ minh hoạ cho sự căng thẳng giữa hợp tác và lợi ích cá nhân.
Các nhà thiểu quyền có lợi hơn nếu hợp tác với nhau để đạt được kết cục độc quyền. Song do theo đuổi lợi ích cá nhân, cuối cùng họ không đạt được kết cục độc quyền và tối đa hoá tổng lợi nhuận của mình. Các nhà thiểu quyển đều có xu hướng tăng sản lượng để có thị phần lớn hơn. Vì ai cũng làm như thế, nên sản lượng tăng và giá giảm.
Đồng thời, lợi ích cá nhân cũng không đẩy thị trường đến kết cục cạnh tranh hoàn hảo. Giống như nhà độc quyền, nhà thiểu quyền hiểu rằng việc tăng sản lượng sẽ làm giảm giá bán của họ. Do vậy họ dừng lại, chứ không làm như các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sản xuất đến điểm mà giá cả bằng chỉ phí cận biên,
Tóm lại, khi các doanh nghiệp trong thị trường thiểu quyên chọn mức sản lượng để tối da hod loi nhuận, sản lượng của họ sẽ lớn hơn sản lượng của nhà độc quyên và nhỏ hơn sẵn lượng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Giá của nhà thiểu quyển thấp hơn giá độc quyền, nhưng cao hơn giá cạnh tranh hoàn hảo (bằng chỉ phí cận biên).
4. QUY MÔ THỊ TRƯỜNG THIẾU QUYỀN VÀ KẾT CỤC THỊ TRƯỜNG
Chúng ta có thể sử dụng những hiểu biết về thị trường nhị quyển để thảo luận xem quy mô của thị trường thiểu quyền tác động như thế nào đến kết cục thị trường. Giả sử Tuấn và Sang khám phá ra nguồn nước trong diện tích đất thuộc sở hữu của mình và tham gia vào thị trường thiểu quyền về nước sạch của Đoàn và Dự. Biểu cầu trong bảng 16.1 không thay đổi, nhưng giờ đây có nhiều nhà cung cấp hơn để thoả mãn nhu cầu này. Việc tăng số nhà sản xuất từ hai lên bốn ảnh hướng như thế nào đến giá và lượng nước trong thành phố?
Nếu các nhà cung cấp thiết lập được một các-ten, họ có thể tối đa hoá tổng lợi nhuận bằng cách sản xuất ở mức sản lượng độc quyền và bán nước sạch với
404
giá độc quyền. Cũng giống như khi chỉ có hai nhà cung cấp, các thành viên của các-ten cần nhất trí về sản lượng của mỗi người và tìm cách nào đó để thoả thuận này có hiệu lực. Khi các-ten trở nên lớn hơn, khả năng đạt được thoả thuận sẽ khó khăn hơn. Nhìn chung, việc đạt được và thực thi một thoả thuận sẽ khó hơn khi quy mô của nhóm tăng lên.
Nếu các nhà thiểu quyền không thiết lập được các-ten, có thể là vì luật chống độc quyền không cho phép họ làm điều đó, họ sẽ phải tự mình quyết định sản lượng nước. Để xem việc số nhà cung cấp tăng ảnh hưởng như thế nào đến kết quả cuối cùng, chúng ta hãy phân tích quyết định của từng nhà cung cấp.
Tại bất kỳ thời điểm nào, mỗi người sở hữu giếng đều có thể chọn cách tăng sản lượng thêm một mét khối. Để đi đến quyết định như vậy, người chủ sở hữu giếng phải so sánh hai hiệu ứng sau:
e— Hiệu ứng lượng: Do giá cao hon chi phí cận biên, việc bán thêm 1 mét khối nước tại mức giá hiện hành làm tăng lợi nhuận.
© - Hiệu ứng giá: Việc tăng sản lượng làm tăng lượng nước bán ra, làm cho giá nước giảm, qua đó làm giảm lợi nhuận tính trên tất cả các mét khối khác.
Nếu hiệu ứng lượng lớn hơn hiệu ứng giá, người sở hữu giếng sẽ tăng sản lượng. Nếu hiệu ứng giá lớn hơn hiệu ứng lượng, họ sẽ không tăng sản lượng.
Vì trên thực tế việc cắt giảm sản lượng có lợi hơn trong trường hợp này, nên các nhà thiểu quyền tăng sản lượng lên đến mức mà hai hiệu ứng cận biên này cân bằng nhau, khi biết trước sản lượng của các doanh nghiệp khác.
Bây giờ chúng ta hãy xét xem số lượng doanh nghiệp trong ngành có ảnh
hưởng như thế nào đến phân tích cận biên của mỗi nhà thiểu quyền. Số lượng
nhà cung cấp càng lớn, mỗi nhà cung cấp càng quan tâm ít hơn đến ảnh hưởng của mình đối với giá cả thị trường. Như vậy khi quy mô thiểu quyền tăng lên, hiệu ứng giá yếu đi. Khi thị trường thiểu quyền đã trở nên quá lớn (có nhiều nhà cung cấp), hiệu ứng giá biến mất hoàn toàn, chỉ để lại hiệu ứng lượng. Trong trường hợp cực đoan này, mỗi doanh nghiệp trong thiểu quyền còn tăng sản lượng chừng nào giá còn lớn hơn chỉ phí cận biên.
Bây giờ chúng ta có thể thấy rằng thị trường thiểu quyền lớn thực chất là một nhóm các doanh nghiệp cạnh tranh. Doanh nghiệp cạnh tranh chỉ cần quan tâm đến hiệu ứng lượng khi ra quyết định sản xuất: do doanh nghiệp cạnh tranh là người chấp nhận giá, hiệu ứng giá hoàn toàn không có. Như vậy, khi số lượng nhà cung cấp trong thị trường thiểu quyền tăng lên, thị trường thiểu quyền ngày càng trở nên giống thị trường cạnh tranh. Khi đó, mức giá tiến đến chỉ phí cận biên và sản lượng tiến đến mức có hiệu quả xã hội.
Phân tích trên về thị trường thiểu quyền đem lại cho chúng ta một cách nhìn mới về các hiệu ứng của thương mại quốc tế, Giả sử Toyota và Honda là hai nhà sản xuất ô tô duy nhất ở Nhat, Volkswagen va Mercedes Benz là các nhà sản 405
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
xuất ô tô duy nhất của Đức, còn Ford và General Motors là các nhà sản xuất ô tô duy nhất ở Mỹ. Nếu các quốc gia này cấm thương mại về ô tô, mỗi nước sẽ có một thị trường nhị quyền về ô tô và kết cục thị trường này khác xa so với kết cục cạnh tranh hoàn hảo. Song nếu có thương mại quốc tế, thị trường ô tô trở thành thị trường toàn cầu và thị trường thiểu quyền trong trường hợp này có sấu thành viên. Bằng cách cho phép thương mại quốc tế làm tăng số lượng nhà sản xuất mà người tiêu dùng có thể lựa chọn, sự tăng cường cạnh tranh sẽ làm cho giá cả tiến gần chi phí cận biên hơn. Như vậy, lý thuyết về thị trường thiểu quyên còn đem lại một lý do khác ngoài lý do vẻ lợi thế so sánh thảo luận trong bài 3 để lý giải tại sao tất cả các nước đều gặt hái được nhiều mối lợi khi chấp nhận một nền thương mại tự do.