2, LUẬN DIEM AN NINH QUOC GIA

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 220 - 223)

Khi một ngành bị sự cạnh tranh của các nước khác đe doa, những người chống đối thương mại tự do thường lập luận rằng ngành của họ có ý nghĩa sống 223

còn đối với an ninh quốc gia. Trong ví dụ của chúng ta, các công ty thép của Cô Lập có thể chỉ ra rằng thép của chúng ta được sử dụng làm súng và xe tăng.

Chính sách thương mại tự do làm cho Cô Lập phụ thuộc vào nguồn cung thép từ các nước khác. Nếu chiến tranh nổ ra, Cô Lập có thể không có khả năng sản xuất đủ số thép và vũ khí cần thiết để tự bảo vệ mình.

Các nhà kinh tế lưu ý rằng việc bảo vệ các ngành then chốt có thể đúng nếu những lo lắng về an ninh quốc gia có căn cứ. Nhưng họ sợ rằng luận điểm này bị các nhà sản xuất lợi dụng để thu lợi trên lưng người tiêu dùng. Chẳng hạn, ngành sản xuất đồng hồ của Mỹ từ lâu đã quả quyết rằng nó có ý nghĩa sống còn đối với an ninh quốc gia, rằng những công nhân lành nghề có thể cần thiết trong thời chiến. Chắc chắn, nhiều người làm việc trong một ngành có động cơ để thổi phồng vai trò của mình trong quốc phòng để được bảo hộ chống lại sự cạnh tranh của nước ngoài.

3. LUẬN ĐIỂM NỀN CÔNG NGHIỆP NON TRẺ

Đôi khi các ngành công nghiệp mới lập luận rằng những biện pháp hạn chế thương mại tạm thời giúp họ khởi nghiệp. Theo lập luận này thì sau một thời kỳ bảo hộ, các ngành công nghiệp mới sẽ trưởng thành và có thể cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Tương tự như vậy, các ngành công nghiệp lâu đời hơn đôi khi lập luận rằng họ cần có sự bảo hộ tạm thời để có thể thích nghi với những điều kiện mới. Chẳng hạn, một lần chủ tịch của General Motors là Roger Smith đã biện luận rằng sự bảo hộ tạm thời “là cần thiết để tạo ra cho các nhà sản xuất ô tô Mỹ một thời kỳ chuyển đổi, giúp cho ngành ô tô trong nước lấy lại sức mạnh của mình.”

Các nhà kinh tế thường nghi ngờ những lời quả quyết như vậy. Nguyên nhân trước hết ở đây là luận điểm về nền công nghiệp non trẻ khó thực hiện trong thực tế. Để bảo hộ thành công, chính phủ phải xác định những ngành có thể sẽ có lãi và cân nhấc xem những mối lợi thu được từ việc tạo lập những ngành này có vượt quá chỉ phí mà người tiêu dùng phải chịu do có sự bảo hộ hay không. Nhưng việc “chọn ra người thắng cuộc” cực kỳ khó khăn. Thực tế chính trị hiện nay còn làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn, vì nó thường thưởng sự bảo hộ cho những ngành công nghiệp hùng mạnh vẻ chính trị. Và khi một ngành hùng mạnh tạm thời được bảo hộ để chống lại sự cạnh tranh của nước ngoài, người ta khó mà từ bỏ được chính sách “tạm thời” này.

Ngoài ra, nhiều nhà kinh tế nghỉ ngờ ngay cả những nội dung chủ yếu của luận điểm về ngành công nghiệp non trẻ. Chẳng hạn, ngành thép của Cô Lập là ngành non trẻ và không có khả năng cạnh tranh thắng lợi với các đối thủ nước ngoài, nhưng chúng ta có đủ lý do để tin rằng tương lai nó sẽ đem lại lợi nhuận.

Trong tình huống đó, người chủ của các doanh nghiệp nên sẵn sàng chịu các 224

Bài 9. Thương mại quốc tế

khoản lỗ tạm thời để thu được lợi nhuận trong tương lai. Việc bảo hộ là không cần thiết để một ngành tăng trưởng. Doanh nghiệp trong nhiều ngành khác nhau - chẳng hạn nhiều công ty kinh doanh Internet hiện nay - chấp nhận các khoản lỗ tạm thời với hy vọng tăng trưởng và trở nên có lãi trong tương lai. Và nhiều công ty thực tế đã thành công ngay cả khi không có sự bảo hộ để chống lại sự cạnh tranh của nước ngoài.

4. LUẬN ĐIỂM CẠNH TRANH KHÔNG CÔNG BẰNG

Một luận điểm phổ biến là thương mại tự do chỉ đáng mong muốn khi tất cả các nước đều tuân thủ một số quy tắc chung. Nếu doanh nghiệp ở các nước khác nhau phải chấp hành các đạo luật và quy định khác nhau, thì điêu này là không công bằng và không thể hy vọng họ cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới. Chẳng hạn, chúng ta hãy giả sử chính phủ nước Láng Giêng trợ cấp cho ngành thép của mình bằng cách huỷ bỏ các khoản thuế lớn đánh vào công ty thép. Ngành thép của Cô Lập có thể lập luận rằng nó cần được bảo hộ để chống lại sự cạnh tranh từ nước ngoài này, vì nước Láng Giêng không cạnh tranh một cách công bằng.

Điều đó có thực sự làm cho Cô Lập bị thiệt khi mua thép của các nước khác

với giá trợ cấp không? Chắc chắn các nhà sản xuất thép bị thiệt, nhưng người tiêu dùng thép của Cô Lập được lợi từ mức giá thép thấp. Ngoài ra, tình huống thương mại tự do cũng không khác: những mối lợi mà người tiêu dùng thu được từ việc mua thép với giá thấp vượt quá những tổn thất của các nhà sản xuất.

Khoản trợ cấp của nước Láng Giêng cho ngành thép của mình có thể là một chính sách tôi, vì chính người dân ở nước Láng Giêng phải chịu gánh nặng thuế này. Cô Lập có thể được lợi từ cơ hội mua thép với giá trợ cấp.

5. LUẬN ĐIỂM BẢO HỘ ĐỂ TẠO THUẬN LỢI CHO THUONG LUONG

Một luận điểm khác ủng hộ biện pháp hạn chế thương mại có liên quan đến chiến lược thương lượng. Nhiều nhà hoạch định chính sách quả quyết rang ho ủng hộ nên thương mại tự đo, nhưng đồng thời lập luận rằng những hạn chế thương mại có thể hữu ích khi chúng ta thương lượng với các nước bạn hàng.

Họ quả quyết rằng mối đe doạ hạn chế thương mại có thể góp phần loại trừ chính sách hạn chế thương mại mà các chính phủ ở nước ngoài đã áp dụng.

Chẳng hạn, Cô Lập có thể de doa đánh thuế vào thép nếu nước Láng Giêng

không bãi bỏ thuế nhập khẩu đánh vào lúa mỳ. Nếu nước Láng Giêng đáp lại sự de đoạ này bằng cách bãi bỏ thuế nhập khẩu của mình, thì kết quả sẽ là nền thương mại tự do hơn.

Vấn đề nảy sinh từ chiến lược thương lượng trên là sự đe đoạ có thể không có tác dụng. Nếu nó không có tác dụng, nước đe doạ rơi vào tình thế khó khăn.

225

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Nó có thể thực hiện lời đe doa và thực thi sự hạn chế thương mại, qua đó làm giảm phúc lợi kinh tế của bản thân nó. Hoặc nếu rút lại lời đe doạ, nó có thể mất uy tín trong các mối quan hệ quốc tế. Khi đứng trước sự lựa chọn này, nước đó sẽ nghĩ rằng có lẽ không nên coi đe doạ là biện pháp đầu tiên.

Một ví dụ về vấn đề này đã xảy ra vào năm 1999, khi Chính phủ Mỹ lên án các nước châu Âu hạn chế nhập khẩu chuối của Mỹ. Sau cuộc tranh cãi kéo dài và rất gay gắt với các chính phủ mà thông thường là đồng minh của Mỹ, Chính phủ Mỹ đã áp dụng thuế nhập khẩu 100 phần trăm đối với nhiều sản phẩm nhập từ châu Âu, từ phó. mát cho tới khăn quàng ca sơ mia. Cuối cùng, không phải chỉ có người châu Âu từ bỏ những mối lợi từ việc nhập khẩu chuối của Mỹ, mà người Mỹ cũng từ bỏ những mối lợi thu được từ phó mát của châu Âu. Đôi khi một chính phủ tham gia vào một trò chơi mạo hiểm như nước Mỹ đã làm và mọi người đều rơi vào tình trạng mạo hiểm.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 220 - 223)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)