Cách xử lý vấn đề kết hôn hiện nay đem lại một ví dụ minh hoa cho chúng ta thấy rằng trên thực tế, việc đạt được sự công bằng ngang khó khăn thế nào.
295
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Giả sử có 2 đôi nam nữ giống hệt nhau, trừ một điểm là một đôi đã kết hôn và một đôi thì chưa. Đặc điểm kỳ lạ của luật thuế thu nhập của Mỹ là nó yêu cầu hai đôi này đóng thuế khác nhau. Hôn nhân ảnh hưởng đến nghĩa vụ nộp thuế của họ, vì luật thuế coi cặp vợ chồng là một người đóng thuế độc lập. Khi người đàn ông và phụ nữ kết hôn, họ không đóng thuế với tư cách từng cá nhân nữa, mà bắt đầu đóng thuế như một gia đình. Nếu người đàn ông và phụ nữ có thu nhập như nhau, nghĩa vụ nộp thuế của họ tăng lên sau khi kết hôn. Các nhà kinh tế gọi phần tăng thêm này của nghĩa vụ nộp thuế là /huế hôn nhân.
Để biết loại “thuế hôn nhân” này vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét một ví dụ về thuế luỹ tiến sau. Giả sử Chính phủ Mỹ đánh thuế 25% đối với mọi khoản thu nhập trên 10.000 đô la. Thu nhập dưới 10.000 đô la được miễn thuế. Chúng ta hãy phân tích xem hệ thống này tác động đến hai đôi khác nhau nêu trên như thế nào
Trước hết, chúng ta hãy xem xét trường hợp Sam và Sally. Sam là một nhà thơ còn đang phấn đấu và không có thu nhập gì. Sally là luật sư và có thu nhập 100.000 đô la một năm. Trước khi kết hôn, Sam không đóng thuế. Sally đóng 25% của 90.000 đô la (100.000 đô la trừ 10.000 đô la miễn thuế), tức 22.500 đô la.
Sau khi kết hôn, hoá đơn thuế của họ không đổi. Trong trường hợp này, thuế thu nhập không khuyến khích, mà cũng không cản trở việc kết hôn.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét trường hợp của John và Joan, hai giáo sư đại học, mỗi người có thu nhập 50.000 đô la một năm. Trước khi cưới, họ đóng 10.000 đô la thuế mỗi người (25% của 40.000 đô la), tổng cộng lại là 20.000 đô la. Sau khi cưới, họ có tổng thu nhập là 100.000 đô la và vì vậy phải đóng thuế 25% của 90.000 đô la, tức 22.500 đô la. Vì vay, sau khi Joan va John kết hôn, hod don thuế của họ tăng thêm 2.500 đô la. Số thuế tăng lên này là thuế hôn nhân.
Chúng ta có thể giải quyết van dé này cho John và Joan bằng cách tăng thu nhập mniễn thuế từ 10.000 lên 20.000 đô la cho các cặp vợ chồng. Nhưng sự thay doi dé tạo ra-một vấn để khác. Theo quy định mới, sau khi cưới, Sam và Sally sẽ chỉ nộp 20.000 đô la tiền thuế, thấp hơn số thuế phải nộp trước khi cưới là 2.500 đô la. Việc loại bỏ được thuế kết hôn cho John và Joan tạo ra trợ cấp kết hôn cho Sam va Sally.
Trén thực tế, luật thuế của Mỹ là một sự thoả hiệp phức tạp, bao gồm cả thuế. hôn nhân và trợ cấp hôn nhân. Theo một nghiên cứu của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ, 42% các cặp vợ chồng đóng thuế hôn nhân bằng khoảng 2%
thu nhập của họ; 51% đóng thuế ít hơn sau khi cưới, tính bình quân bằng khoảng 2,3% thu nhập. Việc các cặp vợ chồng có lợi hay bị thiệt (từ góc độ của thuế) sau khi kết hôn phụ thuộc vào cách phân phối thu nhập giữa giữa hai người. Nếu người đàn ông và phụ nữ có thu nhập như nhau (hhư trường hợp của John và Joan), đám cưới của họ có nhiều khả năng làm tăng số thuế phải nộp.
296
Bài 12. Thiết kế hệ thống thuế
Nếu thu nhập của một người cao hơn nhiều so với người còn lại, đặc biệt là khi
chỉ có một người trong số họ kiếm tiền, thì có nhiều khả năng việc kết hôn sẽ
đem lại trợ cấp hôn nhân cho họ.
Không có giải pháp đơn giản nào cho vấn đề này, Để hiểu tại sao, bạn hãy thử thiết kế một hệ thống thuế thu nhập có 4 đặc điểm sau:
e - Các cặp vợ chồng có tổng thu nhập như nhau phải đóng số thuế bằng nhau.
ằ _ Khi hai người kết hụn, tổng số thuế mà họ phải nộp khụng thay đổi.
® - Một cá nhân hay gia đình không có thu nhập thì không phải nộp thuế.
® _ Những người đóng thuế có thu nhập cao phải đóng phần lớn hơn trong thu nhập của họ so với những người đóng thuế có thu nhập thấp.
Cả 4 yêu cầu trên đều rất hợp lý, nhưng chúng ta lại không thể đồng thời thoả mãn tất cả các yêu cầu đó. Bất cứ loại thuế thu nhập nào thoả mãn ba yêu cầu đầu đều vi phạm yêu cầu thứ tư. Loại thuế duy nhất thoả mãn cả ba yếu tố đầu tiên là thuế tỷ lệ.
Một số nhà kinh tế Mỹ cho rằng cần bãi bỏ thuế hôn nhân bằng cách coi cá nhân là đơn vị đóng thuế, chứ không phải gia đình như nhiều nước châu Âu đang làm. Cách này có vẻ công bằng hơn vì nó xử lý các cặp kết hôn và không kết hôn như nhau. Nhưng sự thay đổi này cũng không thoả mãn yêu cầu đầu tiên trong những yêu cầu trên: các gia đình có cùng tổng thu nhập cuối cùng vẫn đóng số thuế khác nhau. Ví dụ, nếu mỗi thành viên của gia đình đóng thuế như khi chưa cưới, thì Sam và Sally sẽ đóng 22.500 đô la, Joan và John đóng 20.000 đô la, mặc dù cả hai cặp này có cùng tổng thu nhập. Rất khó nói rằng hệ thống thay thế mới này công bằng hơn hệ thống thuế kết hôn hiện hành ở Mỹ.
3. TAC DONG CUA THUẾ VÀ TÍNH CÔNG BẰNG CỦA THUẾ
Tác động của thuế - một chủ đề nghiên cứu về việc ai chịu gánh nặng thuế - có ý nghĩa trung tâm trong vấn dé đánh giá tính công bằng của thuế. Như chúng ta đã thấy trong bài 6, người chịu gánh nặng thuế không phải lúc nào cũng là người nộp thuế cho chính phủ. Vì thuế làm thay đổi cung và cầu, nên nó cũng làm thay đổi giá cân bằng. Kết quả là, thuế tác động đến cả những người mà theo luật không trực tiếp nộp thuế. Khi đánh giá tính công bằng dọc và ngang của bất cứ loại thuế nào, việc tính đến những tác động gián tiếp cũng có ý nghĩa
rat quan trọng. ,
Nhiều cuộc tranh luận vẻ tính công bằng của thuế bé qua tác động gián tiếp của thuế và dựa vào cái mà các nhà kinh tế gọi là lý thuyết giấy bảy ruồi về tác động của thuế. Theo lý thuyết này, con ruồi dính vào đúng vào chỗ mà nó đậu vào đầu tiên. Song điều này thường không có giá trị đối với gánh nặng thuế.
297
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Ví dụ một người không được đào tạo về kinh tế học có thể lập luận rằng thuế đánh vào chiếc áo lông rất đắt mang tính công bằng dọc, vì phần lớn người mua áo lông là người giàu. Song nếu họ dễ dàng thay thế áo lông bằng những hàng hoá xa xỉ khác, thuế đánh vào áo lông có thể chỉ làm giảm đoanh thu của người bán áo lông. Xét cho cùng, gánh nặng thuế chủ yếu rơi vào người sản xuất áo lông, chứ không phải người mua chúng. Bởi vì những công nhân sản xuất áo lông không giàu có gì, nên tính công bằng của thuế đánh vào áo lông có thể khác xa những gì mà lý thuyết giấy bẫy ruồi chỉ ra.