Các doanh nghiệp trong thị trường thiểu quyền có động cơ mạnh mẽ để cấu kết với nhau, nhằm cắt giảm sản lượng, tăng giá và tăng lợi nhuận. Nhà kinh tế vĩ đại của thế kỷ 18 Adam Smith đã nhận thức rất rõ khả năng xảy ra thất bại thị trường này. Trong cuốn Cửa cải của các đân tộc, ông viết “những người kinh doanh cùng một mặt hàng hiếm khi gặp nhau, nhưng các cuộc đối thoại của họ lại thường kết thúc bằng một âm mưu chống lại công chúng, hoặc một mưu đỏ nào đó để tăng giá”.
Chúng ta hãy xem xét một ví dụ hiện đại tương tự như cuộc đối thoại mà A.
Smith đã nhắc tới. Đó là đoạn trích từ cuộc đối thoại giữa hai giám đốc của hai hãng hàng không trong những năm đầu của thập kỷ 1980. Cú điện thoại được đăng trên tờ 7hời bdo New York ngay 24 thang 2 nam 1983. Robert Crandall JA chủ tịch hãng hàng không American Airlines va Howard Putnam IA chi tich hang hang khong Braniff Airways.
Cradall: Tôi nghĩ, thật ngu xuẩn... nếu cứ ngồi đây mà đếm doanh thu của nhau trong khi chẳng kiếm được đô la lợi nhuận nào cả.
Putnam: Ông có gợi ý gì cho tôi không?
Cradall: Có, tôi có một gợi ý cho ông. Hãy tăng giá vé của ông 20%. Tôi sẽ tăng giá của tôi trong buổi sáng hôm sau.
Putnam: Robert, nhung chting ta...
Cradall: Ông sẽ kiếm được nhiều tiền hơn, và tôi cũng vậy.
Putnam: Ching ta khong duoc phép nói với nhau về việc định giá đâu!
Cradall: Ôi, Howard. Chúng ta có thể nói với nhau về bất cứ thứ gì mà chúng ta thích.
Putnam đã đúng: Đạo luật chống độc quyền Sherman cấm giám đốc của các doanh nghiệp cạnh tranh nói chuyện với nhau về việc cố định giá. Khi Howard đưa cuộn băng về cuộc đối thoại này cho Bộ Tư Pháp Mỹ, bộ này đã khởi tố chống lại Robert Crandall.
Hai năm sau, Crandall và Bộ Tư Pháp đã đạt được một thoả thuận là Crandall phải hạn chế các mối quan hệ của mình trong hoạt động kinh đoanh, bao gồm cả việc liên hệ với quan chức của các hãng hàng không khác. Bộ Tư Pháp nói rằng các yêu cầu nêu ra trong quyết định này sẽ “bảo vệ sự cạnh tranh trong ngành hàng không thông qua việc ngăn chặn American và Crandall không có những hành vi độc quyền hoá ngành dich vụ hàng không phục vụ hành khách trên bất cứ tuyến bay nào thông qua việc thảo luận với các đối thủ cạnh tranh về giá cả dịch vụ hàng không”.
418
2. CÁC CUỘC TRANH CÃI VỀ LUẬT CHỐNG ĐỘC QUYỀN
Theo thời gian, phần lớn sự tranh cãi xoay quanh vấn đề các loại hành vi mà luật chống độc quyền cần nghiêm cấm. Phần lớn nhà bình luận nhất trí rằng thoả thuận cố định giá giữa các doanh nghiệp cạnh tranh là phi pháp. Song các đạo luật chống độc quyền đã được sử dụng để kết án một số hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng không rõ ràng. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta hãy
xem xét ba ví dụ.
Thoả thuận cố định giá bán lẻ
Một ví dụ về thủ đoạn kinh doanh gây nhiều tranh cãi là :hod thuận cố định giá bán lẻ, còn được gọi là thương mại công bằng. Chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng công ty máy tính Thánh Gióng bán máy tính cho các cửa hàng bán lẻ với giá 3,5 triệu đồng. Nếu Thánh Gióng yêu cầu các đại lý bán lẻ bán với giá 4 triệu đồng, thì công ty này bị coi là đã có thoả thuận cố định giá bán lẻ. Bất cứ nhà bán lẻ nào bán với giá thấp hơn 4 triệu đồng đều vi phạm hợp đồng với Thánh Gióng.
Thoạt nhìn, thoả thuận cố định giá bán lẻ có vẻ như chống lại cạnh tranh, do đó gây tổn hại cho xã hội. Giống như thoả thuận giữa các thành viên của một các-ten, nó ngăn cản các nhà bán lẻ cạnh tranh về giá. Vì lý do này, toà án thường coi thoả thuận cố định giá bán lẻ là vi phạm luật chống độc quyền.
Nhưng các nhà kinh tế ủng hộ thoả thuận cố định giá bán lẻ với hai lý do.
Thứ nhất, họ cho rằng nó không nhằm làm giảm cạnh tranh. Nếu Thánh Gióng có sức mạnh thị trường ở mức độ nào đó, nó có thể sử dụng sức mạnh này thông qua giá bán buôn, chứ không cần thông qua thoả thuận cố định giá bán lẻ. Hơn
nữa, Thánh Gióng không có lý do gì để hạn chế cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ.
Dĩ nhiên, vì một các-ten các nhà bán lẻ bán với giá thấp hơn nhóm các nhà bán lẻ cạnh tranh, nên Thánh Gióng sẽ bị thiệt hại nếu các nhà bán lẻ của nó là một các-ten.
Thứ hai, các nhà kinh tế cho rằng thoả thuận cố định giá bán lẻ có một mục tiêu hợp pháp. Có thể Thánh Gióng muốn nhà bán lẻ cung cấp cho khách hàng một phòng trưng bày dễ chịu và một lực lượng bán hàng thành thạo. Như vay, khi không có thoả thuận cố định giá bán lẻ, một số khách hàng có thể tận dụng dịch vụ của một cửa hàng để biết về các đặc tính quan trọng của máy tính và mua máy tính với giá rẻ hơn ở nhà bán lẻ không cung cấp dịch vụ này. Trong chừng mực nào đó, dịch vụ tốt là hàng hoá công cộng giữa những người bán lẻ bán máy tính của Thánh Gióng. Như chúng ta đã thảo luận trong bài 11, khi một người cung ứng hàng hoá công cộng, những người khác có thể sử dụng nó mà không phải trả tiền. Trong trường hợp này, các nhà bán lẻ bán rẻ hơn sống nhờ dịch vụ mà các nhà bán lẻ khác cung cấp, dẫn đến tình trạng lượng cung về dịch vụ ít hơn mức mong muốn. Thoả thuận cố định giá bán lẻ là một cách để Thánh Gióng giải quyết vấn đề sử dụng mà không trả tiền này.
419
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Ví dụ về thoả thuận cố định giá bán lẻ minh hoa cho một nguyên lý quan trọng: những thủ đoạn kinh doanh có vẻ ngăn cần cạnh tranh trên thực tế lại có thể phục vụ cho các mục đích hợp pháp. Nguyên tắc này lại làm cho việc vận dụng luật chống độc quyền trở nên khó khăn hơn nhiều. Những nhà kinh tế, luật sư và quan toà chịu trách nhiệm thực thi các đạo luật này phải làm rõ loại hành vị nào chính sách công cộng nên cấm vì chúng ngăn trở cạnh tranh và làm giảm phúc lợi kinh tế. Thông thường, đây là một công việc khó khăn.
Định giá kiểu ăn cướp
Các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thường dùng sức mạnh đó để tăng giá lên trên mức cạnh tranh. Nhưng các nhà hoạch định chính sách đã bao giờ quan tâm đến việc các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường định giá quá thấp chưa? Câu hỏi này là trọng tâm của cuộc tranh cãi thứ hai về chính sách chống độc quyền.
Chúng ta hãy tưởng tượng rằng hãng Hàng không Việt Nam hiện đang nắm độc quyền trên tuyến bay Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh. Bây giờ một hãng hàng không mới gia nhập thị trường và chiếm được 20 phần trăm thị phần, chỉ để lại cho hãng Hàng không Việt Nam 80 phần trăm. Để chống lại sự cạnh tranh này, hãng Hàng không Việt Nam bắt đầu giảm giá vé xuống. Một số nhà phân tích vấn để chống độc quyền lập luận rằng hành động của hãng Hàng không Việt Nam có thể chống lại cạnh tranh: việc giảm giá là nhằm đẩy hãng hàng không mới ra khỏi thị trường để chiếm lại vị thế độc quyền, sau đó tăng giá lên. Hành vi như vậy được gọi là định giá kiểu ăn cướp.
Mặc dù việc định giá kiểu ăn cướp thường được nhắc đến trong các vụ kiện tụng chống độc quyền, nhưng một số nhà kinh tế nghỉ ngờ lập luận này và tin rằng việc định giá kiểu ăn cướp hiếm khi xây ra và có lẽ không bao giờ là một chiến lược kinh doanh có lãi. Tại sao? Để cuộc chiến giá cả đẩy được đối thủ ra khỏi thị trường, giá cả phải thấp hơn chỉ phí. Vậy khi hãng Hàng không Việt Nam bat đầu bán vé rẻ và chịu lỗ, nó nên có nhiều chuyến bay hơn, vì giá thấp hơn sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn. Ngoài ra, hãng hàng không mới có thể đáp lại hành động kiểu ăn cướp của hãng Hàng không Việt Nam bằng việc cắt giảm số chuyến bay. Kết quả là, hãng Hàng không Việt Nam phải chịu hơn 80 phần trăm tổn thất và đặt hãng hàng không mới vào vị thế tốt để tồn tại trong cuộc chiến giá cả. Giống như trong các phim hoạt hình, trong tình huống này kẻ cướp phải gánh chịu nhiều thiệt hại hơn con mồi.
Các nhà kinh tế còn tiếp tục tranh cãi về việc liệu cách định giá kiểu ăn cướp có cần được các nhà hoạch định chính sách chống độc quyền quan tâm không. Nhiễu vấn để khác nhau vẫn chưa được giải đáp. Cách định giá kiểu ăn cướp có phải là một chiến lược kinh doanh có lãi không? Nếu có thì khi nào?
Toà án có thể biết trường hợp giảm giá nào mang tính cạch tranh và bởi Vậy có
420
Bai 16. Thiéu quyén
lợi cho người tiêu dùng, còn khi nào là ăn cướp không? Không có câu trả lời dễ dàng cho những câu hỏi này.
Thủ đoạn bán kèm
Ví dụ thứ ba về thủ đoạn kinh doanh gây tranh cãi là hợp đồng bán kèm.
Giả sử hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất được hai phim mới là Gái nhảy và Đốc tỉnh. Nếu hãng Phim truyện Việt Nam bán cho các rạp chiếu phim ca hai phim với một giá duy nhất, chứ không bán riêng, thì nhà sản xuất phim này bị
coi là bán kèm hai sản phẩm của nó. ,
Khi thủ đoạn bán kèm phim như trên được đưa ra xét xử ở, Toà án Tối cao có thể nghiêm cấm thủ đoạn này. Toà án lập luận như sau: giả sử rằng bộ phim Gái nhảy là bộ phim thành công rực rỡ, đem lại nhiều doanh thu, trong khi Đốc tình là bộ phim nghệ thuật không có lãi. Như vậy, nhà sản xuất phim đã sử dụng nhu cầu cao về bộ phim Gái nhảy để buộc các rạp chiếu phim phải mua bộ phim Đốc tỉnh. Có vẻ nhà sẵn xuất phim sử dụng thủ đoạn bán kèm như một công cụ để mở rộng sức mạnh thị trường.
Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nghỉ ngờ lập luận này. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng các rạp chiếu phim sẵn sàng trả 20 triệu đồng cho bộ phim Gái nhảy và không muốn trả đồng nào cho bộ phim Đốc fình. Khi đó, số tiền nhiều nhất mà các rạp chiếu trả cho cả hai bộ phim là 20 triệu đồng - đúng bằng số tiền mà họ trả cho bộ phim Gái nhảy. Việc buộc một rạp chấp nhận bộ phim không có giá trị gì với tư cách một phần của thương vụ này không làm tăng sự sẵn sàng
thanh toán của rạp. Hãng Phim truyện Việt Nam không thể tăng cường sức mạnh thị trường của mình chỉ đơn giản bằng cách gắn hai bộ phim này với nhau.
Nhưng tại sao thủ đoạn bán kèm lại tổn tại? Có khả năng đây là một dạng phân biệt đối xử về giá. Giả sử có hai rạp chiếu phim. Rạp Dân chủ đồng ý trả 15 triệu đồng cho bộ phim Gái nhảy và 5 triệu đồng cho bộ phim Đốc tình. Rạp Hồng Hà thì ngược lại: họ sấn sàng trả 5 triệu đồng cho bộ phim Gói nhảy và l5 triệu đồng cho bd phim Déc tinh. Néu hang Phim truyện Việt Nam định giá riêng biệt cho từng bộ phim, chiến lược tốt nhất của nó sẽ là 15 triệu đồng mỗi bộ phim và mỗi rạp sẽ quyết định chỉ chiếu một phim. Nhưng nếu hãng Phim truyện Việt Nam gắn hai bộ phim với nhau, nó có thể đặt giá 20 triệu đồng cho hai bộ phim. Như vậy, nếu các rạp khác nhau đánh giá các bộ phim khác nhau, thì thủ đoan bán kèm có thể cho phép hãng phim tăng lợi nhuận bằng cách định giá cả gói gần sát với tổng mức sẵn sàng thanh toán của người mua.
Bán kèm hiên vẫn còn là thủ đoạn kinh doanh gây nhiều tranh cãi. Lập luận của toà án tối cao rằng việc bán kèm cho phép doanh nghiệp mở rộng sức mạnh thị trường sang các mặt hàng khác là không. có cơ sở vững chắc, ít nhất dưới 421
BÀI GIẢNG NGUYEN LY KINH TE VIMO
đạng đơn giản nhất của nó. Nhưng các nhà kinh tế đang phát triển lý thuyết hoàn thiện hơn để lý giải tại sao thủ đoạn bán kèm lại ngăn cần cạnh tranh. Với kiến thức kinh tế hiện có của chúng ta, việc bán kèm có hại cho cả xã hội hay không vẫn chưa rõ ràng.