Thị trường hoạt động hiệu quả đến mức nào trong việc cung ứng những hàng hoá mà mọi người muốn có? Câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào
loại hàng hoá mà chúng ta xem xét. Như đã thảo luận trong bài 7, chúng ta có thể dựa vào thị trường để cung ứng lượng kem có hiệu quả: Giá của kem điều chỉnh để cân bằng cung câu và trạng thái cân bằng thị trường tối đa hoá tông 261
ie: Ei
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
thang du của người sản xuất và tiêu dùng. Nhưng như đã bàn đến trong bài 10, chúng ta không thể dựa vào thị trường để ngăn cản các nhà sản xuất nhôm gây ô nhiễm bầu không khí mà chúng ta hít thở: người mua và người bán trên thị trường nhìn chung không quan tâm đến các ảnh hưởng ngoại hiện do quyết định của họ gây ra. Do vậy, thị trường hoạt động có hiệu quả khi hàng hoá là kem, nhưng nó lại vận hành rất kém khi hàng hoá là bầu không khí trong lành.
Khi xem xét các loại hàng hoá khác nhau trong nền kinh tế, cách tốt nhất là chúng ta phân loại chúng lại theo hai tiêu thức sau:
© - Hàng hoá có íính loại irừ không? Có thể ngăn cản mọi người sử dụng hàng hoá không?
e _ Hàng hoá có fính tranh giành không? Việc sử dụng hàng hoá của người này có làm giảm khả năng thưởng thức hàng hoá đó của những người khác hay
không?
Sử dụng hai tiêu thức phân loại này, hình L1.1 chia hàng hoá thành 4 nhóm:
1. Hàng hoá tư nhân là những hàng hoá vừa có tính loại trừ, vừa có tính tranh giành. Ví dụ, chúng ta hãy xem xét một cốc kem. Nó có tính loại trừ bởi vì có thể ngăn cần (loại trừ) người khác ăn cốc kem đó - bạn chỉ cần không đưa cốc kem đó cho anh ta. Cốc kem có tính tranh giành bởi vì nếu người nào đó đã ăn (đã giành được cốc kem), thì người khác không thể ăn cốc kem đó (không thể giành được). Hầu hết hàng hoá trong nền kinh tế đều là hàng hoá tư nhân giống như cốc kem. Khi phân tích cung và cầu trong bài 4, 5 và 6, cũng như hiệu quả của thị trường ở bài 7, 8 và 9, chúng ta ngầm giả định
rằng hàng hoá vừa có tính loại trừ vừa có tính tranh giành.
2. Hàng hoá công cộng là những hàng hoá không có tính loại trừ và cũng không có tính tranh giành. Nghĩa là, chúng ta không thể ngăn cản (không thể lại trừ) mọi người sử dụng hàng hoá công cộng và việc thưởng thức hàng hoá công cộng của người này không làm giảm khả năng thưởng thức nó của người khác (không cần tranh giành). Ví dụ, quốc phòng là một hàng hoá công cộng. Khi một quốc gia được bảo vệ trước nạn ngoại xâm, thì người ta không thể ngăn cản một người cụ thể nào đó hưởng lợi từ sự bảo vệ này.
Hơn nữa, khi một người hưởng lợi từ quốc phòng, anh ta không làm giảm phúc lợi của những người khác.
3. Nguồn lực cộng đồng là những nguồn lực có tính tranh giành, nhưng không có tính loại trừ. Ví dụ, cá ở đại dương là một hàng hoá có tính tranh giành:
Khi một người nào đó bắt cá, số cá còn lại dành cho những người khác sẽ ít hơn. Song số cá này lại là hàng hoá không có tính loại trừ, bởi vì rất khó bắt ngư đân nộp tiền cho số cá mà họ đánh bắt.
4. Khi một hàng hoá có tính loại trừ, nhưng không có tính tranh giành, thì nó chính là một ví dụ về độc quyển nự nhiên. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem xét 262
Bài 11. Hàng hoá công cộng và nguồn lực cộng đồng
dịch vụ phòng cháy, chữa cháy ở một thị trấn nhỏ. Rất dễ loại trừ mọi người hưởng thụ hàng hoá này: cục phòng cháy, chữa cháy chỉ cần để mặc cho nhà của họ cháy trụi. Song dịch vụ phòng cháy, chữa cháy lại không có tính tranh giành. Lính cứu hoá thường sử dụng phần lớn thời gian để chờ đợi một đám cháy, do vậy mà việc cứu hoả thêm một ngôi nhà không làm giảm khả năng cứu hoả những ngôi nhà khác. Nói cách khác, khi thị trấn đã trả tiền cho cục phòng cháy, chữa cháy, thì chỉ phí tăng thêm do cứu hoả thêm một ngôi nhà nào đó không đáng kể. Trong bài 15, chúng ta sẽ đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh hơn về độc quyền tự nhiên và nghiên cứu vấn để này chỉ tiết hơn.
Tính tranh giành?
Cá Không
Hàng hoá tư nhân Độc quyền tự nhiên
°. Kem e Phéng cháy
C6 |e Quan do e = Truyén hinh cdp
Tinh e — những con đường đông đúc có | ® những con đường thưa người
$ thụ phí có thụ phí
loại Nguồn lực cộng đồng Hàng hoá công cộng
trừ? + Cá ó đại dương + Quốc phòng
Không | se — Môi trường © Trị thức
© — những con đường đông người | ® những con đường thưa người
không thu phí không thu phi
Hình 11.1 Bốn loại hàng hoá. Hàng hoá có thể được chia thành bốn loại theo hai tiêu thức là tính loại trừ, nghĩa là có thể ngăn cần mọi người sử dụng nó không và tính tranh giành, nghĩa là việc sử dụng của một người nào đó có làm giảm khả năng sử dụng của những người khác không. Bảng trên cũng nêu ra ví dụ về những hàng hoá thuộc một trong bốn loại.
Trong bài này chúng ta xem xét những hàng hoá không có tính loại trừ và do vậy được cung cấp miễn phí cho mọi người: đó là hàng hoá công cộng và nguồn lực cộng đồng. Như chúng ta sẽ thấy, chủ để này gắn bó chặt chế với nghiên cứu về ảnh hưởng ngoại hiện. Đối với cả hàng hoá công cộng và nguồn lực cộng đồng, các ảnh hưởng ngoại hiện đêu phát sinh vì một số giá trị không gắn với giá cả. Nếu người nào đó cung cấp một hàng hoá công cộng, ví dụ quốc phòng, thì những người khác sẽ được lợi, nhưng không phải trả tiên cho phúc lợi đó. Tương tự như vậy, khi người nào đó sử dụng một nguồn lực cộng đồng, ví dụ cá ở đại dương, những người khác sẽ bị thiệt, nhưng họ cũng không được đền bù thiệt hại. Do những ảnh hưởng ngoại hiện nêu trên, các quyết định tư nhân về tiêu dùng và sản xuất dẫn đến sự phân bổ nguồn lực không có hiệu quả và sự can thiệp của chính phủ có thể làm tăng phúc lợi kinh tế.
263
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
ll. HANG HOA CONG CONG
Để hiểu được hàng hoá công cộng khác những hàng hoá khác ở chỗ nào và chúng gây ra những vấn đề gì đối với xã hội, chúng ta hãy xét một ví dụ về buổi bắn pháo hoa. Hàng hoá này không có tính loại trừ bởi vì không thể ngăn cản mọi người xem bấn pháo hoa và nó cũng không có tính tranh giành bởi vì sự thưởng thức của người này không hề làm giảm khả năng thưởng thức của người khác.
1. VẤN ĐỀ NGƯỜI HƯỞNG LỢI KHÔNG TRẢ TIỀN
Công dân ở một thị xã Bỉm Sơn muốn xem bắn pháo hoa vào ngày 30 tháng 4. Mỗi người trong tổng số 5000 cư dân của thị trấn định giá cho việc xem bắn pháo hoa là 10 nghìn đồng. Chỉ phí của một buổi bắn pháo hoa là 1 triệu đồng.
Do 5 triệu đồng ích lợi lớn hơn 1 triệu đồng chỉ phí, nên việc cư dân của thị trấn xem bắn pháo hoa là có hiệu quả.
Thị trường tư nhân có khả năng đạt được kết cục có hiệu quả này không? Có lẽ không. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng Xuyên, một doanh nhân ở thị trấn, quyết định đầu tư cho buổi bắn pháo hoa. Xuyên chắc chắn sẽ gặp khó khăn trong việc bán vé cho sự kiện này, bởi vì khách hàng tiềm tang của anh nhanh chóng nhận ra rằng họ có thể xem bán pháo hoa mà không cần mua vé. Buổi trình diễn pháo hoa không có tính loại trừ, do vậy mọi người có động cơ trở thành người hưởng lợi không trả tiên.
Có quan điểm cho rằng nguyên nhân của thất bại thị trường này là do ảnh hưởng ngoại hiện. Nếu Xuyên đâu tư tiền để thực hiện buổi bắn pháo hoa, anh sẽ mang lại ích lợi là ảnh hưởng ngoại hiện tích cực đối với những người xem không trả tiền. Khi can nhắc xem quyết định có đầu tư vào buổi bắn pháo hoa không, Xuyên không tính đến ảnh hưởng ngoại hiện này. Mặc dù buổi bấn pháo hoa được xã hội mong muốn, nhưng nó lại không đem lại lợi nhuận tư nhân.
Cuối cùng, Xuyên sẽ đưa ra một quyết định không hiệu quả dưới góc độ xã hội là không đầu tư tiền để thực hiện buổi bắn pháo hoa nữa.
Mặc dù thị trường tư nhân thất bại trong việc thực hiện buổi bắn pháo hoa mà đân cư thị xã Bỉm Sơn mong muốn, nhưng giải pháp đối với vấn đề của thị xã này rất rõ ràng: chính quyền địa phương có thể tài trợ cho lễ hội 30 tháng 4. Hội đồng Nhân dan thi x4 Bim Son c6 thé tăng thuế đánh vào mỗi cá nhân thêm 2 nghìn đồng và sử dụng số tiền này để thuê Xuyên thực hiện buổi bắn pháo hoa. Mọi người ở thị xã Bỉm Sơn sẽ được lợi 8 nghìn đồng - 10 nghìn đồng giá trị của buổi bắn pháo hoa trừ 2 nghìn đồng tiền thuế. Xuyên giúp thị xã Bỉm Sơn đạt được một kết cục hiệu quả trong vai trò 264
Bài 11. Hàng hoá công cộng và nguồn lực cộng đồng
là người được nhà nước thuê, mặc dù anh không thể làm được điều đó với vai trò một doanh nhân.
Cau chuyện của thị xã Bỉm Sơn đã được đơn giản hoá, song nó cũng rất thực tế. Trong nhiều trường hợp, chính quyền địa phương phải trả tiền cho các buổi
bắn pháo hoa. Hơn nữa, câu chuyện này đem lại cho chúng ta một bài học chung về hàng hoá công cộng: do hàng hoá công cộng không có tính loại trừ, nên vấn đề người hưởng lợi không trả tiền đã can trở khả năng cung ứng nó trên thị trường tư nhân. Tuy nhiên, chính phủ có thể khắc phục vấn để này. Nếu cho rằng tổng ích lợi lớn hơn tổng chỉ phí, chính phủ có thể cung cấp hàng hoá công cộng và tài trợ cho nó bằng thuế, qua đó làm cho mọi người đều có lợi.
2. MOT SO HANG HOA CONG CONG QUAN TRONG
Có rất nhiều ví dụ về hàng hoá công cộng. Ở đây chúng ta xem xét ba loại hàng hoá công cộng quan trọng nhất.
Quốc phòng
Hoạt động bảo vệ đất nước chống lại ngoại xâm là ví dụ kinh điển về hàng hoá công cộng. Nó cũng là hàng hoá tốn kém nhất. Các chính phủ thường chỉ rất nhiều tiền cho hàng hoá này. Mọi người thường tranh cãi về việc chỉ tiêu cho quốc phòng có quá lớn không, nhưng hầu như không ai nghỉ ngờ về sự cần thiết
của nó. Thậm chí ngay cả các nhà kinh tế, những người ủng hộ quy mô nhỏ của khu vực chính phủ, cũng nhất trí rằng quốc phòng là loại hàng hoá công cộng mà chính phủ cần cung cấp.
Nghiên cứu cơ bản
Việc khám phá ra kiến thức mới là một hàng hoá công cộng. Nếu một nhà toán học chứng minh được định lý mới, thì định lý này sẽ năm trong khối kiến thức chung và bất kỳ ai cũng có thể sử dụng nó mà không phải trả tiền. Do kiến thức là hàng hoá công cộng, nên các doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận có xu hướng hưởng lợi mà không trả tiền cho những kiến thức mà người khác đã khám phá ra. Kết quả, họ dành quá ít nguồn lực cho việc phát minh kiến thức mới.
Để đánh giá sự hợp lý của chính sách đối với các phát minh, điều quan trọng là phải phân biệt được những kiến thức cơ bản với những kiến thức cụ thể,
tức kiến thức công nghệ. Kiến thức cụ thể hay công nghệ, ví dụ phat minh vé một loại pin tốt hơn, có thể được cấp bằng sáng chế. Do vậy, người phát minh thu được rất nhiều ích lợi từ phát mình của mình, mặc dù chắc chắn không thu hết được. Ngược lại, nhà toán học không thể bảo vệ bản quyền sáng chế cho một định lý; kiến thức cơ bản này được tất cả mọi người sử dụng mà không phải trả tiên. Nói cách khác, hệ thống bản quyền sáng chế làm cho những kiến thức cụ thể, tức công nghệ, trở nên có khả năng loại trừ, trong khi kiến thức cơ bản không có khả năng loại trừ.
265
ts ÁN.
Chính phủ cố gắng cung cấp loại hàng hoá công cộng như kiến thức cơ bản theo nhiều cách. Các tổ chức chính phủ, ví dụ Bộ Công nghệ và Môi trường trợ cấp cho những nghiên cứu cơ bản về y học, toán học, vật lý, hoá học, sinh học và thậm chí cả kinh tế học. Một số người biện minh cho hoạt động tài trợ của chính phủ đối với các chương trình nghiên cứu này dựa trên quan điểm cho rằng nó đóng góp lớn vào khối kiến thức chung của xã hội.
Chắc chắn nhiều hàng hoá tư nhân, bao gồm áo chống đạn và đồ uống nhanh
Tang, đã sử dụng những nguyên liệu ban đầu được các nhà khoa học và kỹ sư
phát minh trong nỗ lực đưa con người lên mặt trăng. Việc xác định mức hỗ trợ thích hợp của chính phủ cho những nễ lực này rất khó khăn, bởi vì rất khó xác định các ích lợi. Hơn nữa, các thành viên của Quốc hội, những người quyết định số tiền dành cho nghiên cứu, thường có rất ít hiểu biết về khoa học và do vậy không thực hiện tốt chức năng là đánh giá xem những loại hình nghiên cứu nào đem ích lợi lớn nhất.
Chống đói nghèo
Nhiễu chương trình của chính phủ nhằm trợ giúp cho người nghèo. Hệ thống phúc lợi, ví dụ các chương trình trợ giúp cho những gia đình nghèo, cấp một khoản thu nhập nhỏ cho một số gia đình nghèo. Tương tự như vậy, chương trình tem lương thực của Chính phủ Mỹ trợ cấp tiền mua lương thực cho những người có thu nhập thấp và nhiều chương trình nhà ở khác của Chính phủ Mỹ trợ cấp tiền thuê nhà cho các gia đình nghèo. Những chương trình chống đói nghèo này được tài trợ bằng các khoản thuế đánh vào những hộ gia đình khá giả hơn về tài chính.
Các nhà kinh tế không nhất trí với nhau về vai trò của chính phủ trong cuộc chiến chống đói nghèo. Mặc dù sẽ thảo luận van dé này một cách chỉ tiết hơn trong bài 20, nhưng ở đây chúng ta cũng cần chú ý tới một lập luận quan trọng:
những người ủng hộ các chương trình chống đói nghèo cho rằng hoạt động chống đói nghèo là một hàng hoá công cộng.
Giá sử mọi người thích sống trong xã hội không có đói nghèo. Thậm chí ngay cả khi sở thích này mang tính cấp bách và phổ biến, thì hoạt động chống đói nghèo vẫn không phải là một loại “hàng hoá” mà thị trường tư nhân có thể cung cấp. Không một cá nhân riêng lẻ nào có thể loại bỏ đói nghèo, bởi vì vấn đề này quá lớn. Hơn nữa, các tổ chức từ thiện tư nhân lại rất khó giải quyết vấn đề này: những người không quyên góp cho tổ chức từ thiện có thể hưởng lợi từ lòng hảo tâm của những người khác mà không cần trả tiền. Trong trường hợp đó, việc đánh thuế người giàu nhằm làm tăng mức sống của người nghèo có thể làm cho mọi người đều được lợi. Người nghèo được lợi vì giờ đây họ được hưởng mức sống cao hơn, còn những người nộp thuế được lợi vì họ được sống trong xã hội ít đói nghèo hơn.
266
Bài 11. Hàng hoá công cộng và nguồn lực cộng đồng