TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TỚI TIẾT KIỆM CỦA HỘ GIA ĐÌNH

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 541 - 544)

VA PHONG DOAN CUA CARNEGIE

3. TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TỚI TIẾT KIỆM CỦA HỘ GIA ĐÌNH

Một quyết định quan trọng mà mọi người đều gặp phải là quyết định hiện

tại nên tiêu dùng bao nhiêu thu nhập và tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai.

Chúng ta có thể sử dụng lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng để phân tích xem mọi người đưa ra quyết định này như thế nào và tiết kiệm của họ phụ thuộc vào lãi suất thu được từ số tiền tiết kiệm như thế nào.

Chúng ta hãy xem xét quyết định của ông Bốn, một người công nhân đang lập kế hoạch cho việc nghỉ hưu. Để đơn giản hoá vấn đẻ, chúng ta chia cuộc đời của ông Bốn thành hai thời kỳ. Trong thời kỳ thứ nhất, ông còn trẻ và lao động.

Trong thời kỳ thứ hai, ông đã già và nghỉ hưu. Khi còn trẻ, ông Bốn kiếm được tổng thu nhập là 100 triệu đồng. Ông phân chia khoản thu nhập này cho tiêu dùng và tiết kiệm. Khi về già, ông tiêu đùng số tiết kiệm được, bao gồm cả lãi suất thu được từ việc gửi tiết kiệm.

Giả sử lãi suất tiền gửi là 10%. Với mỗi nghìn đồng tiết kiệm khi còn trẻ, ông Bốn có thể tiêu dùng 1,1 nghìn đồng khi về gia. Chúng ta có thể coi việc

"tiêu dùng khi còn trẻ” và "tiêu dùng khi vé già" là hai hàng hoá mà ông Bốn phải lựa chọn. Lãi suất quyết định giá tương đối giữa hai hàng hoá này.

Tiêu dùng khi về già 110

0 50 100 Tiêu dùng khi còn trẻ

Hình 21.15. Quyết định tiêu dùng - tiết kiệm. Hình này cho thấy giới hạn ngân sách của một người khi phải quyết định tiêu dùng bao nhiêu trong hai thời kỳ của cuộc đời, các đường bằng quan biểu thị sự ưa thích và lựa chọn tối tu của anh ta.

Hình 21.15 mô tả giới hạn ngân sách của ông Bốn. Nếu không tiết kiệm, ông Bốn có thể tiêu dùng 100 triệu đồng khi còn trẻ và không có gì khi về già.

Nếu tiết kiệm tất cả thu nhập, ông Bốn không có gì khi còn trẻ và có thể tiêu 549

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

dùng L10 triệu đồng khi về già. Đường giới hạn ngân sách chỉ ra hai kha nang này và các khả năng trung gian khác.

Hình 21.15 cũng sử dụng các đường bàng quan để phản ánh sở thích của ông Bốn về tiêu dùng trong hai thời kỳ. Do thích tiêu dùng nhiều hơn trong cả hai thời kỳ, những điểm nằm trên đường bàng quan cao hơn được ông ưa thích hơn những điểm nằm trên đường bàng quan thấp hơn. Với sở thích này, ông Bốn có thể chọn kết hợp tiêu dùng tối ưu giữa hai thời kỳ trong cuộc đời. Đó là điểm đồng thời nằm trên đường giới hạn ngân sách và đường bàng quan cao nhất. Tại điểm tối ưu đó, Sam tiêu dùng 50 triệu đồng khi còn trẻ và 55 triệu đồng khi về già.

Bây giờ chúng ta hãy xem điều gì xảy ra khi lãi suất tăng từ 10% lên 20%.

Hình 21.16 m6 tả hai kết cục có khả năng xảy ra. Trong cả hai trường hop, đường giới hạn ngân sách đều dịch chuyển ra phía ngoài và trở nên đốc hơn (hay núi cỏch khỏc là ứuay ra phớa ngoài). Với lói suất cao hơn, khi về già ụng Bốn có mức tiêu dùng cao hơn từ mỗi nghìn đồng tiêu dùng mà ông từ bỏ khi còn trẻ.

(a) Lai suất cao hơn làm tăng tiết kiệm — :b) Lãi suất cao hơn làm giảm tiết kiệm Tiêu dùng khi về già Tiêu dùng khi về già

1. Lãi suất cao hơn

= làm đường giới hạn

. @ ngan sach quay ra

ne phỉa ngoài...

Ệ 1. Lãi suất cao hơn

4 làm đường giới han

ngân sách quay ra

s phía ngoài...

1 1

i A

0 x Tiờu dựng khi cũn trẻ 0 ẹ Tiờu dựng khi cũn tre 2... dẫn đến tiêu dùng ít hơn khi còn trẻ 2...dẫn đến tiêu dùng nhiều hơn khi

và tiết kiệm nhiều hơn. côn trẻ và tiết kiệm it hon.

Hình 21.16. Sự gia tăng lãi suất. Trong cả hai phần của hình này, sự gia tang lãi suất đêu làm dịch chuyển đường giới hạn ngân sách ra phía ngoài. Trong phần (a), tiêu dùng khi còn trẻ giảm và tiêu dùng khi về già tăng. Kết quả là có sự gia tăng tiết kiệm khi còn trể. Trong phần (b), tiêu dùng trong cả bai thời kỳ đều tăng. Kết quả là có sự giảm sút tiết kiệm khi còn trẻ.

Hai phần trong hình 21.16 biểu thị các sở thích khác nhau và phản ứng cuối cùng của ông Bốn đối với mức lãi suất cao hơn. Trong cả hai trường hợp, tiêu 550

dùng khi về già đều tăng. Tuy nhiên, phản ứng của tiêu dàng khi còn trẻ đối với sự thay đổi của lãi suất trong hai trường hợp không giống nhau. Trong phần (a), ông Bốn đáp lại mức lãi suất cao hơn bằng cách tiêu dùng ít hơn khi còn trẻ.

Trong phần (b), ông Bốn phản ứng bằng cách tiêu dùng nhiều hơn khi còn trẻ.

Tất nhiên, tiết kiệm của ông Bốn bằng thu nhập của ông khi còn trẻ trừ mức tiêu dùng khi còn trẻ. Trong phần (a), tiêu dùng khi còn trẻ giảm khi lãi suất tăng, do vậy tiết kiệm tăng. Trong phần (b), ông Bốn tiêu dùng nhiều hơn khi còn trẻ, do vậy tiết kiệm giảm. Trường hợp trình bày trong phần (b) nhìn qua có vẻ không hợp lý: ông Bốn đáp lại sự gia tăng lãi suất bằng cách tiết kiệm ít hơn.

Tuy nhiên, hành vi này không có gì đặc biệt. Chúng ta có thể hiểu được nó bằng cách xem xét hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế khi lãi suất tăng.

Trước tiên, chúng ta hãy xem xét hiệu ứng thay thế. Khi lãi suất tăng, tiêu dùng khi về già trở nên rẻ tương đối so với tiêu dùng khi còn trẻ. Do vậy, hiệu ứng thay thế làm cho ông Bốn tiêu dùng nhiều hơn khi về già và tiêu dùng ít hơn khi còn trẻ. Nói cách khác, hiệu ứng thay thế đã khiến cho ông Bốn tiết kiệm nhiều hơn.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét hiệu ứng thu nhập. Khi lãi suất tăng, ông Bốn chuyển sang đường bàng quan cao hơn. Bây giờ ông trở nên khá giả hơn so với trước đây. Nếu tiêu dùng trong cả hai thời kỳ đều là những hàng hoá thông thường, ông Bốn có xu hướng muốn sử dụng sự gia tăng phúc lợi này để thưởng thức mức tiêu dùng cao hơn trong cả hai thời kỳ. Nói cách khác, hiệu ứng thu nhập khiến cho ông Bốn tiết kiệm ít hơn.

Tất nhiên, kết quả cuối cùng phụ thuộc vào cả hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế. Nếu hiệu ứng thay thế lớn hơn hiệu ứng thu nhập, ông Bốn tiết kiệm nhiều hơn. Nếu hiệu ứng thu nhập lớn hơn hiệu ứng thay thế, ông Bốn tiết kiệm ít hơn. Do vậy, lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng nhận định rằng sự gia tăng lãi suất có thể khuyến khích hoặc cản trở tiết kiệm.

Mặc dù kết quả mơ hồ này rất hấp dẫn đưới góc độ lý thuyết kinh tế, song nó lại gây thất vọng dưới góc độ chính sách kinh tế. Có vẻ như chính sách thuế đã phần nào xoay quanh phản ứng của tiết kiệm đối với lãi suất. Một số nhà kinh tế ủng hộ việc cắt giảm thuế đối với thu nhập kiếm được từ việc tiết kiệm và cho vay, cũng các khoản thu nhập từ vốn khác. Họ cho rằng sự thay doi chính sách như vậy làm tăng lãi suất sau thuế mà những người tiết kiệm có thể nhận được, do vậy khuyến khích mọi người tiết kiệm nhiều hơn. Các nhà kinh tế khác lại cho rằng, do hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế, su thay đổi thuế như vậy có thể không làm tăng tiết kiệm, thậm chí có thể làm giảm nó. Thật

không may, các công trình nghiên cứu không đem lại sự thống nhất nào về tác động của lãi suất đối với tiết kiệm. Cuối cùng, giữa các nhà kinh tế vẫn tồn tại các quan điểm bất đồng về việc sự thay đổi của chính sách thuế nhằm khuyến khích tiết kiệm trong thực tế có đem lại tác động mong muốn không.

551

BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ Ví MÔ

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 541 - 544)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)