VÀ CÁC MỐI LỢI TỪ THƯƠNG MẠI
I. CÂU CHUYỆN NGỤ NGÔN VỀ NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI
Để hiểu tại sao mọi người chọn cách phụ thuộc vào người khác trong việc
cung ứng hàng hoá và dịch vụ, cũng như sự lựa chọn này cải thiện cuộc sống
của họ như thế nào, chúng ta hãy quan sát một nền kinh tế hết sức đơn giản.
Chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng trong nên kinh tế giản đơn này chỉ có hai hàng hoá là thịt và khoai tây. Và cũng chỉ có hai người sống trong đó: một chăn nuôi và một trồng trọt, nhưng cả hai đều thích ăn cả thịt và khoai tây.
Mối lợi thu được từ thương mại biểu hiện rõ nhất khi người chăn nuôi chỉ sản xuất thịt và người trồng trọt chỉ sản xuất khoai tây. Trong bối cảnh này, người chăn nuôi và người trồng trọt có thể quyết định sống độc lập với nhau.
Nhưng sau một vài tháng ăn toàn món thịt bò nướng, luộc, rán và quạt chả, người chăn nuôi nhận thấy sự tự cấp, tự túc làm cho anh ta kiệt sức. Người trồng trọt buộc phải ăn khoai tây luộc, nghiền và nướng có lẽ cũng rơi vào tình trạng như vậy. Chúng ta để dàng nhận thấy rằng sự trao đổi làm cho họ hưởng thụ nhiều loại hàng hoá hơn: khi đó cả hai đều có thể an món bít tết với khoai tây
rán. :
Mặc dù kịch bản nêu trên là cách minh hoạ đơn giản nhất cho mối lợi mà mọi người có thể thu được khi trao đổi, nhưng người chăn nuôi và người trồng
trọt cũng thu được các mối lợi tương tự nếu họ sản xuất cả hai hàng hoá, cho dù chí phí cao hơn. Chẳng hạn, người trồng trọt có thể nuôi gia súc và sản xuất thịt tuy anh ta không thành thạo công việc này lắm. Tương tự, chúng ta hãy giả định người chăn nuôi gia súc có thể trồng khoai tây, nhưng đất đai của anh ta không phù hợp lắm với việc trồng khoai tây. Trong tình huống như vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng cả người trồng trọt và người chăn nuôi đều được lợi từ việc chuyên môn hoá vào cái mà họ làm tốt nhất, sau đó trao đổi với nhau.
Tuy nhiên, các mối lợi từ thương mại trở nên khó nhận biết hơn khi một người sản xuất giỏi hơn ở cả hai hàng hoá. Chẳng hạn, người chăn nuôi có thể chăn nuôi gia súc và trồng khoai tây giỏi hơn người trồng trọt. Trong tình huống như vậy, người chăn nuôi và người trồng trọt có nên chọn cách tiếp tục tự túc
không? Hay vẫn còn lý do để họ trao đổi với nhau? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng hơn các yếu tố tác động tới một quyết định như thế.
1. ĐƯỜNG GIỚI HẠN NĂNG LỰC SẢN XUẤT
. Giá sử người chăn nuôi và người trồng trọt làm việc 40 giờ một tuần và có thể sử dụng số thời gian này vào việc trồng khoai tây, chăn nuôi gia súc hoặc cả hai. Bang 3.1 ghi thời gian cần thiết để mỗi người sản xuất một cân hàng hoá.
Người trồng trọt có thể sản xuất một cân khoai tây trong 10 giờ và một cân thịt 60
Bài 3. Sự phụ thuộc lẫn nhau và các mối lợi từ thương mại
trong 20 giờ. Do người chăn nuôi có năng suất cao hơn ở cả hai hoạt động này, nên anh ta sản xuất một cân khoai tây trong 8 giờ và một cân thịt trong | gio.
Số giờ cần thiết Lượng hàng sản để sản xuất ] cân xuất trong 40 giờ
Thịt Khoai tây Thịt Khoai tây
Người trồng trọt |20 giời cân 10 giờ/cân 2 cân 4 cân Người chăn nuôi |1 giời cân 8 giờ/cân 40 cân 5 cân
Bảng 3.1. Các cơ hội sản xuất của người trồng trọt và người chăn nuôi.
Phần (a) của hình 3.1 minh hoạ cho lượng thịt và khoai tây mà người trồng trọt có thể sản xuất ra. Nếu người trồng trọt sử dụng toàn bộ 40 giờ làm việc của mình cho việc sản xuất khoai tây, anh ta sản xuất được 4 cân khoai tây và 0 cân thịt. Nếu sử dụng toàn bộ thời gian cho việc sản xuất thịt, anh ta sản xuất được 2 cân thịt và 0 cân khoai tây. Nếu người trồng trọt chia đều thời gian làm việc của mình cho cả hai hoạt động và sử dụng 20 giờ công cho mỗi hoạt động, anh ta sản xuất được 2 cân khoai tây và 1 cân thịt. Hình 3.1 chỉ ra ba kết cục có thể xảy ra và tất cả các kết cục khác nằm giữa chúng.
Đồ thị trong hình này là đường giới hạn năng lực sản xuất của người trồng trọt. Như chúng ta đã thảo luận trong bài 2, đường giới hạn năng lực sản xuất biểu thị các cơ cấu sản lượng khác nhau mà một nền kinh tế có thể sản xuất ra.
Nó minh hoạ cho một trong các nguyên lý của kinh tế học trong bài 1 là: con
người phải đối mặt với sự đánh đổi. Ở đây, người trồng trọt phải đánh đổi giữa việc sản xuất thịt và sản xuất khoai tây. Chắc các bạn còn nhớ rằng đường giới hạn năng lực sản xuất trong bài 2 được vẽ cong ra phía ngoài; trong trường hợp
này, sự đánh đổi giữa hai hàng hoá phụ thuộc vào lượng hàng hoá được sản xuất
ra. Song ở đây, công nghệ của người trồng trọt trong việc sản xuất thịt và khoai tây (như được tóm tắt trong bảng 3.) cho phép anh ta chuyển đổi giữa hàng hoá này và hàng hoá khác với tỷ lệ không đổi. Do vậy, đường giới hạn năng lực sản xuất là một đường thẳng.
Phần (b) của hình 3.1 vẽ đường giới hạn năng lực sản xuất của người chăn nuôi. Nếu người chăn nuôi sử đụng toàn bộ 40 giờ làm việc của mình cho việc sản xuất khoai tây, anh ta sản xuất được 5 cân khoai tây và 0 cân thịt. Nếu sử dụng toàn bộ thời gian cho việc sản xuất thịt, anh ta sản xuất được 40 cân thịt và
0 cân khoai tây. Nếu người trồng trọt chia đều thời gian làm việc của mình cho
cả hai hoạt động và sử dụng 20 giờ công cho mỗi hoạt động, anh ta sản xuất được 2,5 cân khoai tây và 20 cân thịt. Một lần nữa, đường giới hạn năng lực sản
xuất lại chỉ ra tất cả các kết cục có thể xây ra.
61
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Nếu người trồng trọt và người chăn nuôi chọn cách tự cấp tự túc, chứ không trao đổi với nhau, thì mỗi người sẽ tiêu dùng đúng những thứ mà anh ta sản xuất ra. Trong Tình huống này, đường giới hạn năng lực sản xuất cũng là đường giới hạn khả năng tiêu dùng. Nghĩa là, nếu không có thương mại, thì hình 3.1 chỉ ra tất cả các kết hợp thịt và khoai tây mà người trồng trọt và người chăn nuôi có thể tiêu đùng.
Mặc dù những đường giới hạn năng lực sản xuất này hữu ích trong việc chỉ ra sự đánh đổi mà người trồng trọt và người chăn nuôi phải đối mặt, nhưng chúng không cho biết người trồng trọt và người chăn nuôi thực sự chọn cách làm nào. Để xác định sự lựa chọn của họ, chúng ta cần biết thị hiếu của người trồng trọt và người chăn nuôi. Chúng ta hãy giả định họ chọn các kết hợp hàng hoá được xác định bằng điểm A và điểm B trong hình 3.1: người trồng trọt sản xuất và tiêu dùng 2 cân khoai tây và 1 cân thịt trong khi người chăn nuôi sản xuất và tiêu dùng 2,5 cân khoai tây và 20 cân thịt.
Thit (can) Thit (can)
0 - - 2 Khoai tây (cần)) 4 0 2,5 5 Khoai tây (cân)
(a) Đường giới hạn năng lực sản (b) Đường giới hạn năng lực sản xuất xuất của người trồng trọt của người chăn nuôi
Hình 3.1. Đường giới hạn năng lực sản xuất. Phần (a) chỉ ra các kết hợp thịt và khoai tây mà người trồng trọt cô thể sản xuất. Phần (b) chỉ ra các kết hop thịt và khoai tây mà người chăn nuôi có thể sản xuất. Cả hai đường giới hạn năng lực sản xuất đêu được vẽ trên cơ sở số liệu ghỉ trong bảng 3.2 với giả định rằng cả người trồng trọt và người chăn nuôi đêu có số giờ làm việc 40 giờ mỗi tuần.
2. CHUYÊN MÔN HOÁ VÀ TRAO ĐỔI
Sau nhiều năm ăn cơ cấu hàng hoá ð, người chăn nuôi nảy ra một ý tưởng và đến nói với người trồng trọt:
62
Bài 3. Sự phụ thuộc lẫn nhau và các mối lợi từ thương mại
Người chăn nuôi: Anh bạn trồng trọt của tôi ơi, tôi muốn tiến hành một giao dịch với anh! Tôi biết cách làm cho cuộc sống của cả hai chúng ta trở nên sung túc hơn. Tôi nghĩ anh không cần sản xuất thịt nữa, mà dành toàn bộ thời gian của mình vào việc sản xuất khoai tây. Theo tính toán của tôi, nếu mỗi tuân trồng khoai tây trong 40 giờ, anh sản xuất được 4 cân khoai tây. Nếu anh đưa cho tôi 1 trong 4 cân khoai tây này, tôi sẽ đổi lại cho anh 3 cân thịt. Như vậy, anh sẽ được ăn 3 cân khoai tây và 3 cân thịt mỗi tuần thay vì 2 cân khoai tây và l cân thịt như hiện nay. Nếu nhất trí với kế hoạch của tôi, anh có cổ hai loại thực phẩm nhiều hơn. [Để minh hoạ cho quan điểm của mình, người chăn nuôi đưa cho người trồng trọt xem phần (a) của hình 3.2].
Người trồng trọt. (với vẻ bị quan) Có về đó là một giao dịch tốt đối với tôi.
Nhưng tôi không hiểu tại sao anh lại làm như vậy. Nếu giao dịch này có lợi như
vậy đối với tôi, thì nó không thể có lợi cho anh.
Người chăn nuôi: Ồ, nhưng tôi cũng có lợi! Này nhé, nếu sử dụng 24 giờ một tuân để chăn nuôi và 16 giờ để trồng khoai tây, tôi sẽ sản xuất được 24 cân thịt và 2 cân khoai tây. Sau khi đưa cho anh 3 cân thịt để đổi lấy 1 cân khoai tây, tôi có 21 cân thịt và 3 cân khoai tây. Xét cho cùng, tôi cũng có cả hai loại thực phẩm nhiều hơn hiện nay. [Anh ta chỉ vào phần (b) của hình 3.2]
Thị (cân) Thịt (cân)
Tiêu dùng của người nông 40 đân khi có thương mại
Tiêu dùng của người chân nuôi
khi có thương mại
nông dân khi khong | 20L-—- Tiéu ding của người
ó thương mại han nuôi khi không
có thương mại
I '
' ! :
0 1 2 3 4 0 253 5
Khoai tây (cân) eae Khoai tdy (can)
(a) Trao đổi làm tăng mức tiêu (b) Trao đối làm tăng mức tiêu dùng của người trông trọt dùng của người chăn nuôi
Hình 3.2. Trao đổi làm tăng tập hợp cơ hội tiêu dùng. Sự /rao đổi dự kiến giữa người trồng trọt và người chăn nuôi tạo cho mỗi người cơ hội có được kết hợp thịt và khoai tây mà lẽ ra họ không thể có trong trường hợp không trao đổi.
Trong phần (a), người trồng trọi có thể tiêu dùng tại điểm A* chứ không phải tại điểm A. Trong phân (b), người chăn nưôi có thể tiêu dùng tại điểm B* chứ không phải tại điểm B. Trao đổi cho phép cả hai người tiêu dùng nhiều thịt và
khoai tây hơn.
63
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Người trồng trọi: Tôi không hiểu, ... điều anh nói nghe hay biết bao, nếu đó là
sự thật!
Người chăn nuôi: Thực ra vấn đề không phức tạp như mới nhìn qua. Đây anh xem - tôi đã tóm tất để nghị của mình trong một bảng rất đơn giản. [Người chăn nuôi đưa cho người trồng trọt một phiên bản của bảng 3.2]
Kết cục khi không có Kết cục khi Mối lợi từ
trao đốt có trao đổi trao đổi
Cái họ sản xuất Cái họ Cái họ Cái họ Mức tăng trong và tiêu dùng sản xuất trao đổi tiêu dùng tiêu dùng Người trồng trọt 0 cân thịt Nhận 3 cân 3 cân thịt } - 2 chị
1 cân thịt }ưêm A|4cânkhoai thịchol 3 cân khoai điểm A* le ne AMA
2 cân khoai cân khoai .
Người chăn nuôi 24 cân thịt Trao 3 cân 2l cân thịt 1 cthịt
20 cân thịt gen B|2cânkhoa thitlấyl 3 cân khoai (điểm 8* 05 khoa} BY-B
2,5 can khoai can khoai
Bảng 3.2. Bản tóm tắt những mối lợi từ trao đổi.
Người trồng trọt: (sau khi đã nghiên cứu bảng nay mét hic) Những tính toán của anh có vẻ đúng, nhưng tôi không hiểu. Làm thế nào mà hợp đồng này lại làm cho cả hai chúng ta được lợi?
Người chăn nuôi: Cả hai chúng ta đều được lợi, vì sự trao đổi cho phép mỗi chúng ta chuyên môn hoá vào công việc mà mình làm tốt nhất. Anh sử dụng
nhiều thời gian hơn để trồng khoai tây và ít thời gian hơn để chăn nuôi. Tôi sử dụng nhiều thời gian hơn để chăn nuôi và ít thời gian hơn để trồng khoai tây.
Nhờ chuyên môn hoá và trao đổi, tổng sản lượng thịt và khoai tây của hai chúng ta tăng lên. Đây chính là lý do làm cho mỗi chúng ta có thể tiêu dùng nhiều thịt và khoai tây hơn mà không cần phải làm thêm giờ.