3, GIẤY PHÉP © NHIEM CO THE MUA BAN

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 247 - 250)

__ Bây giờ chúng ta hãy trở lại ví dụ về nhà máy giấy và nhà máy thép. Giả sử rằng bất chấp những lời khuyên của các nhà kinh tế. Bộ Công nghệ và Môi trường lựa chọn cách điều chỉnh và buộc mỗi nhà máy phải giảm lượng ô nhiễm

xuống còn 300 tấn chất thải mỗi năm. Một ngày nào đó sau khi quy định được 252

Bài 10. Ảnh hưởng ngoại hiện

ban hành, cả hai doanh nghiệp này đều đến Bộ Công nghệ và Môi trường đệ trình một khuyến nghị. Nhà máy thép muốn tăng lượng chất thải của mình thêm 100 tấn. Nhà máy giấy đồng ý giảm lượng chất thải xuống cùng một lượng như vậy nếu nhà máy thép trả cho họ 500 triệu đồng. Bộ Công nghệ và Môi trường có nên cho phép hai nhà máy thực hiện hợp đồng trao đổi này không?

Đứng trên quan điểm hiệu quả kinh tế, việc chấp thuận hợp đồng trao đổi trên là một chính sách hợp lý. Nó làm cho chủ sở hữu của cả hai nhà máy đều có lợi, bởi vì họ tự nguyện thoả thuận thực hiện nó. Hơn nữa, hợp đồng không có bất cứ ảnh hưởng ngoại hiện nào bởi vì tổng mức ô nhiễm không thay đổi.

Do vậy, phúc lợi xã hội tăng nhờ việc cho phép nhà máy giấy bán quyền gây ô nhiễm của họ cho nhà máy thép.

Lập luận tương tự cũng được áp dụng cho bất kỳ sự tự nguyện chuyển giao quyển gây ô nhiễm nào từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Nếu Bộ Công nghệ và Môi trường cho phép các doanh nghiệp thực hiện những hợp đồng trao đổi như vậy, thì điều đó sẽ tạo ra một nguồn lực khan hiếm mới: giấy phép gây 6 nhiễm. Thị trường trao đổi những giấy phép này cuối cùng sẽ phát triển và nó được vận hành bởi các lực lượng cung cầu. Bàn tay vô hình đảm bảo cho thị trường mới này phân bổ quyền gây ô nhiễm một cách có hiệu quả. Các doanh nghiệp trước đây buộc phải cắt giảm mức ô nhiễm với chỉ phí cao nay sẽ sẵn sàng trả giá cao nhất cho giấy phép ô nhiễm. Các doanh nghiệp có khả năng cắt giảm ô nhiễm với chỉ phí thấp sẽ bán bất cứ giấy phép nào mà họ có.

Một ưu điểm của việc cho phép sự ra đời thị trường giấy phép gây ô nhiễm là sự phân bổ ban đầu về giấy phép gây Ô nhiễm cho các doanh nghiệp không có ý nghĩa quan trọng dưới góc độ hiệu quả kinh tế. Lập luận ẩn sau kết luận này tương tự như lập luận ẩn sau định dé Coase. Các doanh nghiệp có thể giảm ô nhiễm để dàng nhất sắn sàng bán bất cứ giấy phép nào mà họ có, còn những doanh nghiệp phải cắt giảm ô nhiễm với chỉ phí cao sẵn sàng mua bất cứ giấy phép nào mà họ cần. Khi thị trường tự do cho các quyền gây ô nhiễm tôn tại, sự phân bổ cuối cùng sẽ có hiệu quả, cho dù sự phân bố ban đầu được thực hiện như thế nào.

Mặc dù việc cất giảm ô nhiễm bằng giấy phép ô nhiễm có vẻ rất khác so với thuế Pigou, nhưng thực ra hai chính sách này có nhiều điểm chung. Trong cả hai trường hợp, các doanh nghiệp phải trả tiền cho hoạt động gây ô nhiễm của mình. Với thuế Pigou, các doanh nghiệp gây ô nhiễm phải trả một khoản thuế cho chính phủ. Với giấy phép gây ô nhiễm, các doanh nghiệp gây ô nhiễm phải bỏ tiền ra mua giấy phép. (Thậm chí các doanh nghiệp có sẵn giấy phép vẫn phải trả tiền cho việc gây ô nhiễm: chỉ phí cơ hội của việc gây ô nhiễm là những gì mà họ có thể nhận được bằng cách bán giấy phép của mình trên thị trường tự do.) Cả thuế Pigou và giấy phép gây ô nhiễm đều nội hiện hoá ảnh hưởng ngoại

253

BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ VI MÔ

hiện của sự gây ô nhiễm bằng cách buộc các doanh nghiệp phải gánh chịu chi phớ khi gõy ụ nhiễm. ô

Chúng ta có thể thấy được tính tương đồng của hai chính sách khi xem xét thị trường về quyền gây ô nhiễm. Cả hai phần trong hình 10.5 đều biểu thị đường cầu về quyển gây ô nhiễm. Đường này cho thấy, giá của việc gây ô nhiễm càng thấp, càng có nhiều doanh nghiệp lựa chọn việc gây ô nhiễm. Trong phần (a), Bộ Công nghệ và Môi trường sử dụng thuế Pigou để xác định giá cả cho sự ô nhiễm. Trong trường hợp này, đường cung về quyển gây ô nhiễm hoàn toàn co giãn (vì các đoanh nghiệp có thể gây ra bất cứ mức ô nhiễm nào mà họ muốn bằng cách nộp thuế) và vị trí của đường cầu quyết định lượng ô nhiễm.

Trong phần (b), Bộ Công nghệ và Môi trường thiết lập một lượng ô nhiễm nhất định bằng cách ban hành giấy phép gây ô nhiễm. Trong trường hợp này, đường cung về quyển gây ô nhiễm hoàn toàn không co giãn (do lượng ô nhiễm được cố định bởi số giấy phép gây ô nhiễm) và vị trí của đường cầu quyết định giá cả của sự ô nhiễm. Do vậy với bất kỳ đường cầu về quyền gây ô nhiễm nào, Bộ Công nghệ và Môi trường vẫn có thể đạt được một điểm trên đường cầu bằng cách định ra một mức giá dưới dạng thuế Pigou hoặc định mức ô nhiễm thông qua giấy phép gây ô nhiễm.

(a) Thuế Pigou (b) Giấy phép gây ô nhiễm

Giá ô nhiễm Giá ô nhiễm

Cùng giấy phép gây ô nhiễm

Thuế Pigou

Câu về quyền

Cầu về quyền gây ô nhiễm

: ây ô nhiễm

1. Thuế Pigou J9 Lượng ô nhiém cùng với Lượng 6 nhiễm

thiết lập giá ⁄ đường cả

của sự ô nhiễm Z... cùng với đường quyết định giá Ì. Giấy phép gây ô ng cầu

cảônhiễm nhiễm quyết định lượng ô nhiễm...

cầu xác định lượng ô nhiễm

Hình 10.5 Tính tương đông của thuế Pigou và giấy phép gây ô nhiễm.

Trong phân (a), Bộ Công nghệ và Môi trường định ra_ mức giá cho quyền gay 6 nhiễm bằng cách áp dụng thuế Pigou và đường câu quyết định lượng ô nhiễm.

Trong phân (b), Bộ Công nghệ và Môi trường hạn chế lượng ô nhiễm bằng cách kiểm soát giấy pháp gây ô nhiễm và đường câu quyết định giá cả của việc gây Ô nhiễm. Giá và lượng ô nhiễm như nhau trong cả hai trường hợp.

254

Bài 10. Ảnh hưởng ngoại hiện

Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc bán giấy phép gây ô nhiễm có thể có hiệu quả hơn so với việc áp đặt thuế Pigou. Giả sử Bộ Công nghệ và Môi trường muốn lượng chất thải xuống sông tối đa là 600 tấn. Song do không biết đường cầu về quyền gây ô nhiễm, nên Bộ Công nghệ và Môi trường không biết chắc mức thuế nào giúp họ đạt được mục tiêu của mình. Trong trường hợp này, họ có thể bán đấu giá 600 giấy phép gây ô nhiễm. Giá thu được từ cuộc đấu giá sẽ cho chúng ta biết mức thuế Pigou hợp lý.

Ý tưởng bán đấu giá quyền gây ô nhiễm của chính phủ ban đầu có vẻ chỉ là san phẩm tưởng tượng của một nhà kinh tế nào đó. Và trên thực tế, ý tưởng này đã có sự khởi đầu như vậy. Nhưng Cục Bảo vệ Môi trường ở Mỹ ngày càng sử dụng hệ thống này để kiểm soát ô nhiễm. Giống như thuế Pigou, giấy phép gây ô nhiễm giờ đây được chấp nhận rộng rãi với tư cách một phương pháp ít tốn kém trong việc giữ cho môi trường trong sạch.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 247 - 250)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)