Để tìm hiểu về thị trường cạnh tranh độc quyền, trước tiên chúng ta xem xét các quyết định của một doanh nghiệp cá biệt. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét điều gì xảy ra trong dài hạn, khi các doanh nghiệp gia nhập hoặc rút khỏi ngành.
Tiếp theo, chúng ta so sánh trạng thái cân bằng trong thị trường cạnh tranh độc quyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Cuối cùng, chúng ta tìm hiểu xem kết cục đo thị trường cạnh tranh độc quyền tạo ra có lợi cho toàn xã hội không.
1. DOANH NGHIỆP CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN TRONG NGẮN HẠN
Doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền giống nhà độc quyền ở nhiều phương điện. Do sản phẩm của nó khác sản phẩm của các doanh nghiệp
khác, nên nó phải đối mặt với đường cầu dốc xuống. (Trái lại, doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đối mặt với đường cầu nằm ngang tại mức giá thị trường.) Như vậy, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền tuân theo quy luật của nhà độc quyền khi tối đa hoá lợi nhuận: nó chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên bằng chỉ phí cận biên và sử dụng đường cầu để tìm ra mức giá phù hợp với sản lượng đó.
Hình 17.1 vẽ đường chi phí, đường cầu và đường doanh thu cận biên của hai doanh nghiệp điển hình hoạt động trong các ngành cạnh tranh độc quyền khác nhau. Trong cả hai phần của hình vẽ, mức sản lượng tối đa hoá lợi nhuận là mức sản lượng mà tại đó đường doanh thu cận biên cắt đường chỉ phí cận biên. Hai phần trong hình vẽ cho thấy các kết cục khác nhau về lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong phần (a), do giá cao hơn tổng chi phí bình quân, nên doanh 431
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
nghiệp thu được lợi nhuận. Trong phần (b), giá thấp hơn tổng chỉ phí bình quân.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp không thể đạt được lợi nhuận dương và điều tốt nhất mà nó có thể làm được là tối thiểu hoá thua lỗ.
(a) Doanh nghiệp có lợi nhuận (b) Doanh nghiệp bị thua lỗ
Giá Giá MC ATC
MÔ . Thua lỗ
Tong chil
" phí bình|
Giá quân| 7
Giá `
' Cầu
1 MER
1 1
0 San lượng tối đã Sản lượng Q. Sản lượng tối thiểu Sản lượng
hoá lợi nhuân hoá thưa 16 .
Tổng chỉ Í---/-..—~- nh phí bình
quân Pợi nhuận
Hình 17.1. Các nhà cạnh tranh độc quyền trong ngắn hạn. Giống nhự nhà độc quyền, nhà cạnh tranh độc quyền tối da hoá lợi nhuận bằng cách sản xuất mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên bằng chỉ phí cận biên. Doanh nghiệp trong phần (a) có lợi nhuận vì tại mức sản lượng này, giá cao hơn tổng chỉ phí bình quân. Doanh nghiệp trong phần (b) bị thua lỗ vì tại mức sẵn lượng này, giá thấp hơn tổng chỉ phí bình quán.
Tất cả những kết luận trên đều quen thuộc với chúng ta. Doanh nghiệp cạnh tranh độc quyển lựa chọn mức giá và sản lượng giống như nhà độc quyền.
Trong ngắn hạn, hai loại cấu trúc thị trường này giống nhau.
2. TRẠNG THÁI CÂN BẰNG DÀI HẠN
Các tình huống mô tả trong hình 17.1 không kéo dài. Khi doanh nghiệp đang có lợi nhuận, như trong phần (a), các đoanh nghiệp mới có động cơ gia nhập thị trường. Sự gia nhập này làm tăng số lượng sản phẩm mà người tiêu dùng có thể lựa chọn, do đó làm giảm nhu cầu của mỗi doanh nghiệp đang tồn tại trên thị trường. Nói cách khác, lợi nhuận khuyến khích sự gia nhập và sự gia nhập làm đường cầu của các doanh nghiệp hiện có dịch chuyển sang trái. Do nhu cầu của các doanh nghiệp hiện có giảm, nên họ thu được ít lợi nhuận hơn.
Ngược lại, khi đang bị thua lễ như trong phần (b), doanh nghiệp có động cơ rút khỏi ngành. Do doanh nghiệp rời bỏ thị trường, nên người tiêu dùng có ít sản phẩm hơn để lựa chọn. Sự giảm bớt số lượng doanh nghiệp có tác dụng làm tăng nhu cầu của các doanh nghiệp còn lại trên thị trường, Nói cách khác, sự thua lỗ khuyến khích doanh nghiệp rời bổ thị trường và sự rời bỏ làm dịch chuyển
432
đường cầu của các doanh nghiệp còn lại trong ngành sang phải. Do nhu cầu của
các doanh nghiệp còn lại tăng, nên số doanh nghiệp có lợi nhuận cũng tăng
hoặc sự thua lỗ giảm.
Quá trình gia nhập và rời bỏ ngành tiếp điễn cho đến khi các doanh nghiệp trên thị trường kiếm được lợi nhuận kinh tế bằng 0. Hình 17.2 mô tả điểm cân bằng dài hạn. Khi thị trường đạt được điểm cân bằng này, các doanh nghiệp mới không có động cơ gia nhập, còn các doanh nghiệp hiện có không có động cơ rời bỏ thị trường.
Cần chú ý rằng đường cầu trong hình vẽ vừa chạm vào đường tổng chỉ phí bình quân. Về mặt toán học, chúng ta nói rằng hai đường này /iế? tuyến với nhau. Chúng phải tiếp xúc với nhau khi sự gia nhập và rời bỏ ngành đẩy lợi nhuận kinh tế đến 0. Do lợi nhuận trên từng đơn vị hàng hoá bằng mức chênh lệch giữa giá (xác định trên đường cầu) và tổng chỉ phí bình quân, nên lợi nhuận tối đa chỉ bằng 0 nếu hai đường này chạm vào nhau, chứ không cắt nhau.
Giá
ATC
tận lượng tối đa Sản lượng hoá lợi nhuận
Hình 17.2. Nhà cạnh tranh độc quyền trong dài hạn. Trong ?hị trường cạnh tranh độc quyên, nếu các doanh nghiệp hiện có thu được lợi nhuận, doanh nghiệp mới sẽ gia nhập ngành, làm dịch đường cầu của các doanh nghiệp hiện có sang trái. Tương tự như vậy, nếu các doanh nghiệp hiện có bị thua lô, mội sô doanh nghiệp sẽ rời bỏ thị trường và đường cầu của các doanh nghiệp còn lại dịch chuyển sang phải. Do sự dịch chuyển này của đường câu, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyên cuối cùng nằm trong cân bằng đài hạn như trên hình vẽ.
Trong trạng thái cân bằng dài hạn, giá bằng tổng chỉ phí bình quân và các doanh nghiệp hiện có thu được lợi nhuận bằng 0.
Tóm lại, hai đặc tính của trạng thái cân bằng đài hạn trên thị trường cạnh tranh độc quyền là:
se Giống như trong thị trường độc quyền, giá cao hơn chỉ phí cận biên. Kết luận này có được là vì việc tối đa hoá lợi nhuận đòi hỏi doanh thu cận biên 433
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
bang chi phí cận biên và do đường cầu dốc xuống, đoanh thu cận biên thấp hơn giá cả.
* _ Giống như trong thị trường cạnh tranh, giá bằng tổng chi phí bình quân. Kết luận này có được là vì sự gia nhập và rời bỏ ngành tự do làm lợi nhuận kinh
tế bằng 0.
Dac tinh thứ hai cho thấy cạnh tranh độc quyền khác với độc quyền như thế nào. Do nhà độc quyền là người bán duy nhất đối với sản phẩm không có hàng hoá thay thế gần gũi, nên nó có thể kiếm lợi nhuận kinh tế dương ngay cả
trong dài hạn. Trái lại, do có sự gia nhập tự do vào thị trường cạnh tranh độc
quyền, lợi nhuận kinh tế của doanh nghiệp trong cấu trúc thị trường này bị ép xuống tới 0.
3. CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN VÀ CẠNH TRANH HOÀN HẢO
Hình 17.3 so sánh trạng thái cân bằng đài hạn trong thị trường cạnh tranh độc quyền với trạng thái cân bằng dài hạn trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Có hai điểm khác nhau đáng chú ý giữa cạnh tranh độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo. Đó là tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và thặng số.
(a) D.nghiệp cạnh tranh độc quyền (b) D.nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
Giá Giá
Thang sé MC ATC MC
P -_
Chỉ phí
cận biên)” ~ Z
P= MR ATC
' Đường cầu
1 1 MR Câu
1
Sản lượng Quy môcó Sản lượng hiệu quả ` - Sản lượng = Quy mô Sản lượng
có hiệu quả
Dư thừa năng lực
Hình 17.3. Cạnh tranh độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo, Phần (a) chỉ ra trạng thái cân bằng dài hạn của thị trường cạnh tranh độc quyển, còn phần (b) Chỉ ra trạng thái cân bằng dài hạn trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Ở đây có hai điển khác biệt. (1) Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sản xuất tại quy
mô có hiệu quả, tổng chỉ phí bình quân được tối thiểu hoá. Ngược lại, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyên sản xuất thấp hơn mức có hiệu quả. (2) Giá bằng chỉ phí cận biên trong cạnh tranh hoàn hảo, nhưng giá cao hơn chỉ phí cận biên trong cạnh tranh độc quyền.
434
Luôn luôn rơi vào tình trạng dư thừa năng lực sản xuất
Như chúng ta vừa thấy, sự gia nhập và rút khỏi ngành đẩy doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền đến điểm tiếp xúc giữa đường cầu và đường tổng chỉ phí bình quân. Phần (a) của hình 17.3 cho thấy mức sản lượng ở điểm này nhỏ hơn mức tối thiểu hoá tổng chỉ phí bình quân. Như vậy trong cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp sản xuất tại điểm nằm trên đoạn đốc xuống của đường tổng chỉ phí bình quân. Nhìn từ phương điện này, cạnh tranh độc quyền khác hẳn cạnh tranh hoàn hảo. Như phần (b) trong hình 17.3 cho thấy, sự gia nhập tự do vào thị trường cạnh tranh đẩy các doanh nghiệp tới việc sản xuất tại điểm có tổng chi phí bình quân tối thiểu (điểm thấp nhất trên đường tổng chi phí bình quân).
Nếu coi mức sản lượng làm giảm tổng chỉ phí bình quân tới mức tối thiểu là quy mô hiệu quả, thì trong dài hạn, các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sản xuất tại quy mô hiệu quả, còn các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền sản xuất thấp hơn mức này, tức có quy mô không hiệu quả. Các nhà kinh tế gọi tình trang này là tình trạng đự thừa năng lực sản xuất. Nói một cách khác, không giống như doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền vẫn còn nguồn lực để tăng sản lượng và giảm chi phí sản xuất bình quân.
Đẩy giá lên cao hơn chỉ phí cận biên
Điểm khác biệt thứ hai giữa cạnh tranh độc quyên và cạnh tranh hoàn hảo là ở mối quan hệ giữa giá cả và chỉ phí cận biên. Đối với doanh nghiệp cạnh tranh như trong phần (b) của hình 17.3, giá bằng chỉ phí cận biên. Đối với doanh nghiệp cạnh tranh độc quyên như trong phan (a), gid cả cao hơn chỉ phí cận biên bởi vì doanh nghiệp luôn có sức mạnh thị trường.
Việc đẩy giá lên cao hơn chỉ phí cận biên có phù hợp với sự tự do gia nhập và lợi nhuận bằng 0 không? Điều kiện lợi nhuận kinh tế bằng 0 chỉ đảm bảo rằng giá bằng tổng chỉ phí bình quân. Nó không đảm bảo rằng giá bằng chỉ phí cận biên. Thực ra trong trạng thái cân bằng dài hạn, các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền hoạt động trên đoạn dốc xuống của đường tổng chỉ phí bình quân và vì thế chỉ phí cận biên phải nhỏ hơn tổng chỉ phí bình quân. Như vậy, để bằng tổng chỉ phí bình quân, giá phải lớn hơn chỉ phí cận biên.
Trong mối quan hệ này giữa giá và chỉ phí bình quân, chúng ta thấy được một sư khác nhau cơ bản trong hành vi của nhà cạnh tranh hoàn hảo và nhà cạnh tranh độc quyền. Giả sử bạn phải hỏi một doanh nghiệp câu hỏi sau: “Anh quan tâm đến việc có thêm một khách hàng vào cửa hàng và sắn sàng mua hàng tại mức giá hiện hành không?” Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sẽ trả lời là nó không quan tâm. Vì giá đúng bằng chỉ phí cận biên, lợi nhuận từ việc bán thêm một sản phẩm bằng 0. Ngược lại, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền rất muốn có thêm một khách hàng nữa. Do giá cao hơn chỉ phí cận biên, mọi đơn vị tiêu thụ tăng thêm tại mức giá công bố đều mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Nói 435
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
bang hình tượng thì thị trường cạnh tranh độc quyền là thị trường mà người bán gửi thiếp chúc mừng năm mới cho người mua.
4. CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN VÀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
Kết cục do thị trường cạnh tranh độc quyền tạo ra có đáng mong muốn đối
với cả xã hội không? Các nhà hoạch định chính sách có thể cải thiện kết cục đó
không? Các câu hỏi này không có câu trả lời đơn giản.
Nguồn gây ra tính phi hiệu quả là việc đẩy giá lên mức cao hơn chỉ phí cận biên. Do giá cả cao, một số khách hàng đánh giá hàng hoá cao hơn chỉ phí cận biên (nhưng nhỏ hơn giá cả) không mua được hàng, Như vậy, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyển gây ra tổn thất tải trọng đối với xã hội do cách định giá độc quyền. Chúng ta biết đến tính phi hiệu quả này lần đầu tiên khi thảo luận về độc quyền trong bài 15.
Mặc dù kết cục trên không đáng mong muốn so với kết cục tốt nhất trong đó giá bằng chỉ phí cận biên, nhưng các nhà hoạch định chính sách không dễ dàng giải quyết vấn đề này. Để đảm bảo việc định giá theo chỉ phí cận biên, các nhà hoạch định chính sách phải quản lý tất cả các doanh nghiệp sản xuất những hàng hoá khác nhau. Do những sản phẩm như vậy rất phổ biến trong nền kinh tế nên gánh nặng hành chính của sự điều chỉnh quá lớn.
Thêm vào đó, khi điều chỉnh nhà cạnh tranh độc quyển, người fa còn phải đối mặt với tất cả những vấn dé nảy sinh trong quá trình điểu chỉnh thị trường độc quyền. Đặc biệt, việc buộc phải giảm giá xuống mức chỉ phí cận biên làm cho các nhà cạnh tranh độc quyền thua lỗ, vì họ đã có lợi nhuận kinh tế bằng không. Để giúp họ tiếp tục kinh doanh, chính phủ phải bù lỗ cho họ. Thay vì tăng thuế để tài trợ cho các khoản trợ cấp này, các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định tốt hơn là chung sống với tính phi hiệu quả của kiểu định giá cạnh tranh độc quyền.
Mặt khác, cạnh tranh độc quyền không có hiệu quả đối với xã hội là vì số lượng doanh nghiệp trên thị trường không phải con số “lý tưởng”. Nghĩa là, có thể có quá nhiều hoặc quá ít người tham gia thị trường. Một cách tiếp cận vấn để này là xem xét những ảnh hưởng ngoại hiện gắn với sự gia nhập. Mỗi khi một doanh nghiệp mới cân nhắc việc tham gia thị trường với sản phẩm mới, nó sẽ chỉ quan tâm đến lợi nhuận có thể kiếm được, Nhưng sự gia nhập của nó vẫn
gây ra hai ảnh hưởng ngoại hiện: ‘
© Anh huéng da dang hod sin phdm: Vi người tiêu đùng nhận được một số thặng dư của người tiêu dùng từ việc có thêm sản phẩm mới, sự gia nhập của doanh nghiệp mới đem lại ảnh hưởng ngoại hiện tích cực đối với người
tiêu dùng. l
® Ảnh hưởng đánh cắp thị trường: Vì các doanh nghiệp khác bị mất khách hàng và lợi nhuận khi có sự gia nhập của doanh nghiệp mới, nên sự gia nhập 436
của doanh nghiệp mới gây ra ảnh hưởng ngoại hiện tiêu cực đối với các doanh nghiệp hiện có.
Như vậy, trong thị trường cạnh tranh độc quyền có cá ảnh hưởng ngoại hiện tích cực và tiêu cực gắn với sự gia nhập của các doanh nghiệp mới. Thị trường cạnh tranh độc quyền có thể có quá nhiều hoặc quá ít sản phẩm, tuỳ thuộc vào chỗ ảnh hưởng ngoại hiện nào lớn hơn.
Ca hai ảnh hưởng ngoại hiện nêu trên đều gắn với các điều kiện của cạnh tranh độc quyền. Ảnh hưởng đa dạng hoá sản phẩm xuất phát từ việc doanh nghiệp mới đưa ra sản phẩm khác với các doanh nghiệp hiện có. Ảnh hưởng đánh cấp thị trường xuất hiện vì các doanh nghiệp định giá cao hơn chỉ phí cận biên và vì vậy luôn muốn bán nhiều hàng hoá hơn. Ngược lại, do các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sản xuất hàng hoá giống hệt nhau và định giá bằng chi phi can biên, nên không ảnh hưởng ngoại hiện nào trong số này tổn tại trong cạnh tranh hoàn hảo.
Cuối cùng, chúng ta chỉ có thể kết luận rằng thị trường cạnh tranh độc quyền không có được các đặc tính phúc lợi đáng mong muốn của thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Như vậy, bàn tay vô hình không có khả năng đảm bảo rằng tổng thặng dư được tối đa hoá trong thị trường cạnh tranh độc quyền. Song do tính phi hiệu quả không rõ ràng và khó xác định, nên chính sách công cộng không để dàng cải thiện kết cục thị trường.