Các nước chọn một trong hai phương pháp tiếp cận để đạt được nên thương mại tự do. Nó có thể áp dụng phương pháp tiếp cận đơn phương và tự mình bãi bỏ các hạn chế thương mại của nó. Đây chính là cách làm của Đại Vương quốc - Anh vào thế kỷ 19, Chi Lê và Hàn Quốc trong những năm gần đây. Cách làm khác là một nước có thể áp dụng phương pháp tiếp cận đa phương và giảm bớt sự hạn chế thương mại khi các nước khác cũng làm như vậy. Nói cách khác, nó có thể thương lượng với các nước bạn hàng của mình để giảm bớt hoặc bãi bỏ hạn chế thương mại trên toàn thế giới.
Một trong những ví dụ quan trọng về phương pháp tiếp cận đa phương là Hiệp định Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), một hiệp định đã góp phần giảm bớt hàng rào thương mại giữa Mỹ, Mê hi cô và Ca na đa. Ví dụ khác là Hiệp định Chung về Mậu dịch và Thuế quan (GATT) tồn tại dưới dạng một loạt các cuộc thương lượng liên tục giữa nhiều nước trên thế giới với mục đích thúc day thương mại tự do. Mỹ đã góp phần thành lập GATT sau Thế chiến II để giải quyết tình trạng thuế nhập khẩu cao đã được áp dụng trong thời kỳ Đại suy thoái vào những năm 1930. Nhiều nhà kinh tế tin rằng thuế nhập khẩu cao là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn về kinh tế trong thời kỳ này. GATT đã thành công trong việc cắt giảm mức thuế nhập khẩu bình quân của các nước thành viên từ khoảng 40 phần trăm sau Thế chiến II xuống khoảng 5 phần trăm hiện nay. Các quy tắc của GATT hiện nay vẫn có hiệu lực trong một tổ chức thế giới có tên là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
226
Bai 9. Thuong mai quéc té
Những lý lẽ ủng hộ và chống lại phương pháp tiếp cận đa phương đối với thương mại là gì? Ưu điểm của phương pháp tiếp cận đa phương là nó có thể tạo ra nên thương mại tự do hơn phương pháp tiếp cận đơn phương, bởi vì nó giảm bớt sự hạn chế thương mại cả ở nước ngoài và trong nước. Tuy nhiên, nếu các cuộc thương lượng quốc tế thất bại, thì thương mại sẽ bị hạn chế nhiều hơn trường hợp áp dụng phương pháp tiếp cận đơn phương.
Ngoài ra, phương pháp tiếp cận đa phương còn có lợi thế về mặt chính trị.
Trên hầu hết các thị trường, các nha san xuất có số lượng ít hơn và được tổ chức tốt hơn người tiêu dùng - do đó họ có ảnh hưởng chính trị lớn hơn. Chẳng hạn, việc cắt giảm thuế nhập khẩu thộp của Cụ Lập cú thể ứọp khú khăn về chớnh trị nếu được xem xét riêng rẽ. Các công ty thép sẽ chống lại nền thương mại tự do và những người được hưởng lợi có số lượng lớn đến mức việc tổ chức sự ủng hộ của họ rất khó khăn. Nhưng giả sử nước Láng Giêng hứa sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu đánh vào lúa mỳ ngay khi Cô Lập cắt giảm thuế nhập khẩu đánh vào thép, thì trong tình huống này, các nông trại sản xuất lúa mỳ của Cô Lập, những người cũng mạnh về chính trị, sẽ ủng hộ hiệp định này. Như vậy, phương pháp tiếp cận đa phương đối với thương mại đôi khi thu được sự ủng hộ chính trị, trong khi việc cắt giám đơn phương không có được sự ủng hộ đó.
IV. KẾT LUẬN
Bức thư của nhóm các nhà kinh tế thuyết phục được vị Tổng thống mới của Cô Lập. Các nhà kinh tế và công chúng nói chung thường bất đồng về chính
sách thương mại tự do. Chẳng hạn vào nam 1993, nước Mỹ phải đối mặt với vấn để có nên phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (giữa Mỹ, Ca na đa và Mê hi cô) không. Các cuộc thăm đò ý kiến cho thấy ý kiến ủng hộ và phản đối của công chúng Mỹ về vấn đề này gần bằng nhau và Hiệp định được Quốc hội phê chuẩn chỉ nhờ một đa số nhỏ nhoi. Những người chống đối coi thương mại tự do là sự đe doạ đối với việc làm và đời sống của người Mỹ. Ngược lại, hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ hiệp định này. Họ coi thương mại tự do là một cách để phân bổ sản xuất có hiệu quả và nâng cao mức sống ở cả ba nước.
Các nhà kinh tế coi Mỹ là ví dụ minh chứng cho tính ưu việt của chính sách thương mại tự do. Trong suốt lịch sử của mình, nước Mỹ đã chấp nhận nên thương mại không bị hạn chế giữa các bang và đất nước với tư cách một tổng thể đã gặt hái được nhiều mối lợi do quá trình chuyên môn hoá mà nền thương mại đó tạo ra. Florida tréng cam, Texas khai thác dầu khí, California làm rượu nho và v.v... Người Mỹ không có mức sống cao như hiện nay nếu mọi người chỉ tiêu dùng những hàng hoá và dịch vụ mà bang mình sản xuất ra. Thế giới cũng 227
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
được hưởng những mối lợi tương tự từ nền thương mại giữa các nước (gọi là
thương mại quốc tế).
Để hiểu rõ hơn quan điểm của các nhà kinh tế về thương mại, chúng ta hãy tiếp tục câu chuyện của mình. Giả sử Cô Lập bỏ qua lời tư vấn của nhóm các nhà kinh tế và quyết định không chấp nhận nền thương mại tự đo trên thị trường thép. Nước này sẽ tiếp tục nằm trong trạng thái cân bằng như khi không có thương mại quốc tế.
Nhưng vào một này nào đó, một nhà sáng chế nào đó ở Cô Lập phát minh ra một phương pháp mới để sản xuất thép với chỉ phí rất thấp. Quy trình sản xuất là một bí quyết và nhà sáng chế quyết tâm giữ kín bí mật của mình. Điều kỳ lạ là nhà sáng chế không cần công nhân và quặng sắt để sản xuất thép. Đầu vào duy nhất mà anh ta cần là lúa mỳ.
Mọi người tung hô thiên tài của nhà sáng chế. Vì thép được sử dụng trong nhiều sản phẩm, nên sáng chế này làm giảm giá thành của nhiều hàng hoá và cho phép người dân Cô Lập hưởng mức sống cao hơn. Những công nhân trước đây sản xuất thép gặp khó khăn khi nhà máy của họ đóng cửa, nhưng rồi họ
cũng tìm được việc làm trong các ngành khác. Một số người trở thành nông dân
và trồng lúa mỳ - thứ mà nhà sáng chế dùng để chế biến thành thép. Những người khác gia nhập những ngành kính tế mới xuất hiện do người đân Cô Lập có mức sống cao hơn (chẳng hạn ngành du lịch). Mọi người đều hiểu rằng sự chuyển đổi này của công nhân mang tính tất yếu. Nó là bộ phận không thể thiếu được của sự tiến bộ.
Sau nhiều năm, phóng viên một tờ báo quyết định nghiên cứu quy trình sản xuất thép mới thần bí này. Anh ta đột nhập vào nhà máy của nhà sáng chế và biết được rằng nhà sáng chế này là một kẻ lừa đảo. Anh ta không hề sản xuất thép, mà buôn lậu lúa mỳ ra nước ngoài để đổi lấy thép sản xuất ở các nước khác. Cái duy nhất mà nhà sáng chế phát minh ra là mối lợi từ thương mại.
Khi sự thật bị bóc trần, chính phủ đóng cửa cơ sở kinh doanh của nhà sáng chế. Giá thép tăng và công nhân trở về làm việc trong các nhà máy thép. Mức sống ở Cô Lập giảm xuống tới mức trước đây. Nhà sáng chế bị cầm tù và bị mọi người cười nhạo. Xét cho cùng, anh ta không phải là nhà sáng chế, mà chỉ là một nhà kinh tế.
TÓM TẮT
Có thể xác định những tác động của thương mại tự do bằng cách so sánh giá trong nước khi không có thương mại với giá thế giới. Giá trong nước của một hàng hoá thấp cho thấy rằng đất nước có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hoá đó và đất nước trở thành nước xuất khẩu. Giá trong nước của một hàng 228
Bài 9. Thương mại quốc tế
hoá cao cho thấy rằng người nước ngoài có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hoá đó và đất nước trở thành nước nhập khẩu.
Khi một nước chấp nhận thương mại và trở thành nước xuất khẩu một hàng hoá, người sản xuất ở nước đó được lợi, còn người tiêu dùng bị thiệt. Khi một nước chấp nhận thương mại và trở thành nước nhập khẩu một hàng hoá, người tiêu dùng ở nước đó được lợi, còn người sản xuất bị thiệt. Trong cả hai trường hợp, những mối lợi thu được từ thương mại đều vượt quá tổn thất.
Thuế nhập khẩu - khoản thuế đánh vào hàng nhập khẩu - chuyển thị trường tiến gần tới trạng thái cân bằng tồn tại khi không có thương mại, qua đó làm giảm những mối lợi thu được từ thương mại. Mặc dù các nhà sản xuất trong nước được lợi và chính phủ tạo được nguồn thu, nhưng tổn thất của người tiêu dùng, lớn hơn những mối lợi này.
Hạn ngạch nhập khẩu gây ra những ảnh hưởng tương tự như thuế nhập khẩu.
Song trong điều kiện áp dụng hạn ngạch, người có giấy phép nhập khẩu nhận được nguồn thu mà lẽ ra thuộc về chính phủ nếu áp dụng thuế nhập khẩu.
Có nhiều luận điểm khác nhau ủng hộ chính sách hạn chế thương mại. Những luận điểm chủ yếu là bảo vệ việc làm, giữ gìn an ninh quốc gia, hỗ trợ cho các ngành công nghiệp non trẻ, chống lại sự cạnh tranh không công bằng và chống lại những biện pháp hạn chế thương mại của nước ngoài. Mặc dù một vài luận điểm trong số này có giá trị nhất định trong một số tình huống, nhưng các nhà kinh tế tin rằng nhìn chung thương mại tự đo là chính sách tốt hơn.
NHỮNG THUẬT NGỮ THEN CHỐT
giá thế giới world price thuế nhập khẩu tariff han ngach nhdp khdu — quota
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Giá trong nước tồn tại phổ biến khi không có thương mại quốc tế cho chúng ta biết điều gì vẻ lợi thế so sánh của một quốc gia?
2. Khi nào một nước trở thành nước xuất khẩu một hàng hoá? Khi nào néớ*trở
thành nước nhập khẩu?
3. Hãy vẽ đồ thị cung cầu cho nước nhập khẩu. Đâu là thặng dư của người sản xuất và của người tiêu dùng trước khi chấp nhận thương mại? Đâu là thặng dự của người sản xuất và của người tiêu dùng khi có thương mại tự do?
Tổng thang dư thay đổi như thế nào?
4. Hãy cho biết thuế nhập khẩu là gì và trình bày ảnh hưởng kinh tế của nó.
229
Hạn ngạch nhập khẩu là gì? Hãy so sánh ảnh hưởng của nó với những ảnh hưởng của thuế nhập khẩu.
Hãy nêu năm luận điểm thường được đưa ra để biện hộ cho chính sách hạn chế thương mại. Các nhà kinh tế nhận định về các luận điểm này như thế nào?
Phương pháp tiếp cận đơn phương và đa phương khác nhau ở chỗ nào trong việc đạt được nền thương mại tự do? Hãy lấy ví dụ cho mỗi trường hợp.
BÀI TẬP VÀ VẬN DỤNG
1, Việt Nam chỉ chiếm một tỷ phần nhỏ trên thị trường dứa thế giới.
a. Hãy vẽ đồ thị biểu thị trạng thái cân bằng trên thị trường dứa khi không có thương mại quốc tế. Hãy xác định giá cân bằng, lượng cân bằng, thặng dư của người tiêu dùng và thặng dư của người sản xuất.
Giả sử giá dứa thế giới thấp hơn giá dứa của Việt Nam khi chưa có thương mại và giờ đây thị trường dứa của Việt Nam được mở cửa cho thương mại.
Hãy xác định giá cân bằng mới, lượng tiêu dùng, lượng sản xuất trong nước và lượng nhập khẩu. Hãy chỉ ra thặng dư của người tiêu dùng và người sản xuất trong nước. Tổng thặng dư trong nước tăng hay giảm?
2. Giá rượu nho thế giới thấp hơn giá rượu nho ở Việt Nam khi không có thương mại.
a. Hãy giả sử rằng nhập khẩu rượu nho của Việt Nam (sản xuất ở Ninh Thuận) chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sản lượng rượu nho thế giới và vẽ đồ thị về thị trường nho của Việt Nam trong diểu kiện thương mại tự do. Hãy tính thặng dư của người tiêu dùng, thặng dư của người sản xuất, tổng thặng dư và ghi vào một bảng thích hợp.
Bay giờ hãy giả sử rằng sự đổi hướng bất thường của một dòng hải lưu gây ra mùa hè lạnh lẽo đột ngột ở châu Âu, phá huy hầu hết các vườn nho ở đó.
Cú sốc này có ảnh hưởng gì tới giá rượu nho thế giới? Hãy sử dụng đồ thị và bang cla ban trong phan (a) để chỉ ra thặng dư của người tiêu dùng, thặng dư của người sản xuất và tổng thặng dư ở Việt Nam. Ai là người được và ai
là người mất? Việt Nam với tư cách một tổng thể được lợi hay bị thiệt?
3. Giá bông thế giới thấp hơn giá không có thương mại ở nước A và cao hơn giá không có thương mại ở nước BH. Hãy sử dụng đồ thị cung cầu và bảng phúc lợi như trong bai nay để chỉ ra những mối lợi từ thương mại ở mỗi nước. Hãy so sánh kết quả của bạn cho hai nước.
4. Giả sử Quốc hội Mỹ đánh thuế vào ô tô nhập khẩu để bảo hộ ngành ô tô của
Mỹ, do đó ngành này không phải đối phó với sự cạnh tranh của nước ngoài. Giả 230
Bai 9. Thuong mai quéc té
định Mỹ là nước chấp nhận giá trên thị trường ô tô thế giới, hãy chỉ ra bằng đồ thị của bạn: sự thay đổi trong lượng nhập khẩu, tổn thất của người tiêu dùng Mỹ, mối lợi của người sản xuất Mỹ, nguồn thu của Chính phủ Mỹ và tồn thất tải trọng có liên quan đến khoản thuế nhập khẩu này. Chúng ta có thể phân tích tổn thất của người tiêu dùng thành ba phần: phần được chuyển giao cho người sản xuất trong nước, phần được chuyển giao cho chính phủ và tổn thất tải trọng.
Hãy sử dụng đồ thị của bạn để xác định ba phần này.
5. Theo một bài báo trong to Thoi dai Niu Ooc (5/11/1993), thi “số nông dân
trồng lúa mỳ ở vùng Trung Tây chống lại Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ [NAFTA] cũng bằng số nông dân trồng ngô ủng hộ nó.” Để đơn giản hoá, chúng ta hãy giả định rằng Mỹ là một nước nhỏ trên cả thị trường lúa mỳ và thị trường ngô, và nếu không có hiệp định thương mại tự do, nước Mỹ hoàn toàn không buôn bán những hàng hoá này với các nước khác ngoài Canađa và „ Mêhicô. (Cả hai giả định này là sai, nhưng chúng không ảnh hưởng tới bản chất phản ứng của mọi người đối với các vấn đề nêu ra sau đây.)
a. Dua trén thong tin từ bài báo, bạn đi đến kết luận rằng giá lúa mỳ thế giới cao hơn hay thấp hơn giá lúa mỳ của Mỹ trong trường hợp không có thương mại? Bạn nghĩ rằng giá ngô thế giới cao hơn hay thấp hơn giá ngô của Mỹ trong trường hợp không có thương mại? Bây giờ, hãy phân tích những hậu quả về phúc lợi của NAFTA trén cả thị trường lúa mỳ và thị trường ngô.
b. Hay xem xét đồng thời cả hai thị trường. Nông dân Mỹ nói chung được lợi hay bị thiệt? Người tiêu dùng Mỹ nói chung được lợi hay bị thiệt? Nước Mỹ nói chung được lợi hay bị thiệt?
6. Hãy tưởng tượng rằng những người san xuất rượu vang ở bang Washington (Mỹ) vận động chính quyền bang đánh thuế vào rượu vang nhập khẩu từ bang California. Họ cho rằng khoản thuế này vừa làm tăng nguồn thu từ thuế cho
chính quyền bang, vừa làm tang viéc lam trong ngành rượu nho ở bang Washington. Bạn có nhất trí với lời khẳng định này không? Nó có phải là một chính sách tốt không?
7. Một lần nghị sĩ Ernest Hollings (Mỹ) đã viết rằng “người tiêu dùng không được lợi từ những hàng hoá nhập khẩu có giá thấp hơn. Chỉ cần lướt qua một SỐ danh mục đặt hàng qua bưu điện, bạn sẽ thấy rằng người tiêu dùng trả giá như nhau cho quần áo, đù nó được sản xuất tại Mỹ hay nhập khẩu”. Hãy bình luận.
8. Hãy viết một bài luận văn ngắn để biện hộ hoặc phê phán từng quan điểm chính sách sau đây:
a. Chính phủ không nên cho phép nhập khẩu nếu các công ty nước ngoài bán
hàng với giá thấp hơn chí phí của họ (hiện tượng được gọi là “bán phá giá”).
231
b. Chính phủ nên tạm dừng nhập khẩu những hàng hoá mà ngành sản xuất ra chúng ở trong nước vừa mới hình thành và đang vật lộn để tồn tại.
c. Chính phủ không nên cho phép nhập khẩu hàng hoá từ những nước có các quy định về môi trường yếu kém hơn chúng ta.
9. Giả sử một tiến bộ công nghệ ở Nhật làm giảm giá tỉ vi thế giới.
a.. Nếu Việt Nam là nước nhập khẩu ti vi và không áp dụng các hạn chế thương mại. Tiến bộ công nghệ này ảnh hưởng tới phúc lợi của người tiêu dùng và người sản xuất Việt Nam như thế nào? Điều gì xảy ra đối với tổng thặng dư ở Việt Nam?
b.. Bây giờ giả sử Việt Nam áp dụng hạn ngạch đối với tỉ vi nhập khẩu. Tiến bộ công nghệ này của Nhật tác động tới phúc lợi của người tiêu dùng, người sản xuất và người được cấp phép nhập khẩu ở Việt Nam như thế nào?
10. Khi Chính phủ ở nước Thương Mại quyết định áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với ô tô nước ngoài, có ba khuyến nghị được đưa ra: (1) bán giấy phép nhập khẩu thông qua một cuộc đấu giá; (2) phân phối giấy phép bằng cách rút số ngẫu nhiên; (3) bắt mọi người xếp hàng và phân phối giấy phép theo nguyên tắc người đến trước được cấp phép trước. Theo bạn chính sách nào gây ra tổn thất tải trọng lớn nhất? Chính sách nào gây ra tổn thất tải trọng nhỏ nhất? Tại sao? (Gợi ý: Tất cả các cách khác để tạo ra nguồn thu từ thuế cho chính phủ bản thân chúng đều gây ra tổn thất tải trọng.)
11. Trong một bài báo trên tờ Tạp chí Phố Uôn ( 26-6-1990) viết về người trồng củ cải đường ở Mỹ có đoạn: “'Chính phủ trợ cấp cho giá đường trong nước bằng cách hạn chế nhập khẩu đường có giá thấp từ nước ngoài. Chính sách này đảm bảo rằng người sản xuất nhận được “giá ổn định thị trường” bằng 0,22 đô la, cao hơn giá phổ biến trên thị trường thế giới khoảng 0,09 đô la.” Hãy chú ý rằng chính sách hạn chế nhập khẩu nêu trong bài báo này là hạn ngạch nhập khẩu.
a. Hay minh hoa cho tác động của hạn ngạch này đối với thị trường đường của Mỹ. Hãy đánh dấu giá và lượng tương ứng với trường hợp tự do thương mại và trường hợp áp dụng hạn ngạch.
b. Hãy phân tích tác động của hạn ngạch đường bằng cách sử dụng các công cụ phân tích phúc lợi.
c.. Bài báo còn bình luận rằng “những người phê phán chương trình đường nói rằng [hạn ngạch] đã gây khó khăn cho nhiều nước sản xuất đường ở vùng Ca rỉ bê, Mỹ Latinh và Viễn Đông trong việc tạo thu nhập từ xuất khẩu, đã làm tổn hại các nên kinh tế của họ và gây ra sự bất ổn định về chính trị trong khi làm tăng nhu cầu của Thế giới Thứ ba về viện trợ nước ngoài từ Mỹ.” Phân tích phúc lợi thông thường của chúng ta chỉ bao gồm những cái 232