TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH PHỦ MỸ

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 275 - 280)

Chính phủ lấy bao nhiêu thu nhập quốc dân dưới dạng thuế? Hình 12.1 chi ra nguồn thu của Chính phủ Mỹ, bao gồm Chính phủ Liên bang, chính quyển bang và địa phương tính bằng phần trăm trong tổng thu nhập của nền kinh tế Mỹ. Nó cho thấy rằng theo thời gian, phần thu nhập mà chính phủ lấy đi ngày càng lớn. Năm 1902, Chính phủ Mỹ thu 7% tổng thu nhập trong khi năm 1998, con số này là 32%. Nói cách khác, khi thu nhập của nên kinh tế tăng lên, nguồn thu của chính phủ thậm chí còn tăng nhanh hơn.

Bảng 12.1 so sánh gánh nặng thuế của một số nước, tính bằng phần trăm nguồn thu từ thuế của chính quyền trung ương trong tổng sản phẩm trong nước.

Mỹ nằm ở mức trung bình so với các nước khác. Gánh nặng thuế ở Mỹ thấp hơn so với các nước châu Âu, nhưng cao hơn so với nhiều nước khác trên thế giới. Ở những nước nghèo như Ấn Độ và Pakixtan, gánh nặng thuế thường tương đối thấp. Thực tế này phù hợp với những bằng chứng trong hình 12.1 là gánh nặng thuế tăng lên theo thời gian. Khi một quốc gia giàu lên, phần thu nhập phải nộp thuế cho chính phủ cũng tăng lên.

Pháp 38.8 %

Anh 33.7

Đức 29.4

Braxin 19.7

Mỹ 19.3

Canada 18.5

Nga 17.4

Pakistan 15.3

Inđônêxia 14.7

Mêhicô 12.8

Ấn độ 10.3

Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới, 1998/99

Bảng 12.1: Nguồn thu từ thuế của chính phủ trung ương của một số nước tính

bang phan tram GDP.

280

Bài 12. Thiết kế hệ thống thuế

Nguồn thu ;„

tính bằng

% của

GDP ?9Ƒ

Chính phủ 23

Chinh quyén bang va dia

20

Chính phủ Liên bang

6 1 s k L L 1 i L 1 L i L L L L tia 1902 1813 1922 1927 1932 1940 1950 1860 1970 1980 1990 1998

Hình 12.1. Nguồn thu của chính phủ Mỹ bằng phần trăm GDP. Đồ thị này biểu thị tổng nguôn thu của Chính phí Liên bang, chính quyền bang và địa phương tính bằng phần trăm tổng sản phẩm trong nước (GDP), chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của toàn bộ nên kinh tế. Đồ thị này chứng tỏ Chính phủ Mỹ đóng một vai trò to lớn trong nên kinh tế Mỹ và vai trò đó liên tục tăng lên theo thời gian. Nguồn: Thống kê lịch sử của Hoa Kỳ, Báo cáo kinh tế của Tổng

thống 1999.

Qui mô nguồn thu của chính phủ chỉ nói lên một phần vấn đề. Đằng sau tổng số tiên này là hàng nghìn quyết định cá nhân về thuế và chỉ tiêu. Để hiểu hệ thống tài chính của chính phủ kỹ càng hơn, chúng ta hãy xem tổng số tiền này được phân loại thành các mục lớn như thế nào.

1. CHÍNH PHỦ LIÊN BANG

Chính phủ Liên bang Mỹ thu khoảng hai phần ba số thuế trong nền kinh tế Mỹ. Chính phủ Liên bang huy động tiền bằng nhiều cách khác nhau và cách chỉ tiêu của chính phủ còn đa dạng hơn nữa.

Nguồn thu.

Bảng 12.2 cho thấy nguồn thu của Chính phủ Liên bang năm 1999. Tổng thu của năm đó là 1.806 tý đô la, một con số quá lớn so với trí tượng tượng của chúng ta. Dé đễ dàng hiểu được con số to lớn này, chúng ta chia nó cho đân SỐ Mỹ (khoảng 272 triệu vào năm 1999). Khi đó, chúng ta sẽ thấy rằng một người Mỹ trung bình phải đóng 6.639 đô la cho Chính phủ Liên bang. Một gia đình trung bình gồm bốn thành viên đóng 26.556 đô la.

Nguồn thu lớn nhất của Chính phủ Liên bang là thuế thu nhập cá nhân. Gần đến ngày 15 tháng 4, hầu như mọi gia đình Mỹ đều phải điển vào tờ kê khai 281

thuế để xác định số thuế thu nhập ma họ còn nợ chính phủ. Các gia đình phải báo cáo thu nhập của họ từ mọi nguồn: tiền lương từ lao động, lãi suất tiền gửi, cổ tức từ công ty mà họ nắm giữ cổ phiếu, lợi nhuận thu được từ bất cứ hoạt động kinh doanh nhỏ nào, và v.v... Nghĩa vụ nộp thuế của một gia đình (tức số tiền họ nợ) được tính dựa trên tổng thu nhập của họ.

Nghĩa vụ nộp thuế thu nhập của các gia đình không chỉ đơn giản tỷ lệ thuận với thu nhập của họ. Luật pháp quy định cách tính thuế phức tạp hơn. Thu nhập chịu thuế được tính bằng cách lấy tổng thu nhập trừ đi một số tiền nhất định được tính trên cơ sở số người ăn theo (chủ yếu là trẻ em) và những chi phí mà các nhà hoạch định chính sách cho là “được phép trừ ra” (như lãi suất tiền vay để mua nhà, tiền quyên góp cho các tổ chức từ thiện). Sau đó, mức thuế phải nộp được tính bằng cách nhân thu nhập chịu thuế với một tỷ lệ phần trăm như trong bảng 12.3. Bảng này ghi (huế suất cận biên - tức thuế suất áp dụng cho mỗi đô la thu nhập tăng thêm. Vì thuế suất cận biên tăng theo thu nhập, nên các gia đình có thu nhập cao phải chỉ phần lớn hơn trong thu nhập của họ để nộp thuế. (Chúng ta sé thảo luận khái niệm thuế suất cận biên kỹ hơn ở phần sau của bài này).

Loại thuế Sốtiển _Số tiễn trên Phân trăm

l (tỷ đô la) đầu người (đô la) trong tổng thu

Thuế thu nhập cá nhân 869 3194 48%

Thuế bảo hiểm xã hội 609 2239 34

Thuế thu nhập công ty 182 669 10

Các loại khác 146 337 8 }]

Tổng 1806 6639 _ 100

ẹguồn: Bỏo cỏo Kinh tế của Tổng thống, 1999, bảng B.80

Bảng 12.2. Nguồn thu của Chính phủ Liên bang: 1999.

Đánh vào thu nhập chịu thuế Thuế suất là

Dưới 25.750 đô la 15.0%

Từ 25.750 đô la đến 62.450 đô la 28.0

Từ 62.450 đô la đến 130.250 đô la 31.0

Từ 130.250 đô la đến 285.150 đô la 36.0

Trên 285.150 đô la 39.6

Bảng 12.3. Thuế suất của thuế thu nhập liên bang: 1999. Đảng này ghỉ các

thuế suất cận biên của người đóng thuế độc thân. Số tiên thuế mà người đóng thuế phải nộp phụ thuộc vào tất cả các mức thuế suất cận biên cho tới mức thu nhập của anh ta. Ví dụ, người đồng thuế có thu nhập 50.000 đô la trả 159% của 25.750 đô la và 28% của số thu nhập còn lại.

282

Bài 12. Thiết kế hệ thống thuế

Đối với Chính phủ Liên bang, thuế tiền lương không kém phần quan trọng so với thuế thu nhập cá nhân. Thuế tiền lương là thuế đánh vào tiền lương mà công ty trả cho công nhân. Bảng 12.2 gọi loại thu nhập này là thuế bảo hiểm xã hội, bởi vì số tiên thu được từ loại thuế này được dành để trả bảo hiểm xã hội và y tế. Bảo hiểm xã hội là chương trình trợ giúp thu nhập, được thiết kế chủ yếu để bảo đảm mức sống nhất định cho người già. Y tế là chương trình chăm SÓC sức khoẻ của Chính phủ dành cho người già. Bảng 12.2 cho thấy một người Mỹ trung bình nộp 2.239 đô la tiền thuế bảo hiểm xã hội trong năm 1999.

Loại thuế có quy mô tiếp theo, nhưng nhỏ hơn nhiều so với thuế thu nhập cá nhân và thuế bảo hiểm xã hội là :huế thu nhập công ty. Công ty là đoanh nghiệp được thành lập với tư cách một thực thể pháp lý riêng biệt. Chính phủ đánh thuế các công ty dựa trên lợi nhuận của chúng - tức số tiền mà công ty nhận được từ hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán trừ đi chi phi sản xuất. Hãy chú ý rằng về cơ bản, lợi nhuận công ty bị đánh thuế hai lần. Một lần, nó bị đánh thuế thu nhập công ty khi công ty kiếm được lợi nhuận; lần thứ hai nó đánh thuế vào thu nhập

cá nhân, khi công ty sử dụng lợi nhuận của mình để trả cổ tức cho cổ đông.

Loại thuế cuối cùng trong bảng 12.2, gọi là “các loại khác”, chiếm 8% tổng nguồn thu. Loại này bao gồm thuế (iêu thụ đặc biệt, tức thuế đánh vào một số hàng hoá nhất định như xăng, thuốc lá và đồ uống có cồn. Nó cũng bao gồm nhiều khoản nhỏ như thuế bất động sản và thuế hải quan.

Chỉ tiêu

Bang 12.4 chỉ ra các khoản chỉ tiêu của Chính phủ Liên bang năm 1999.

Tổng chỉ tiêu bằng 1.727 tý đô la, hay 6350 đô la trên một đầu người. Bảng này cũng cho thấy tổng chỉ tiêu của Chính phủ Liên bang được phân chia như thế nào giữa các khoản mục chỉ tiêu lớn.

Mục chỉ lớn nhất trong bảng 12.4 là bảo hiểm xã hội, phần lớn dưới dạng thanh toán chuyển giao cho người già. (Thanh toán chuyển giao là khoản chỉ

tiêu mà chính phủ cấp, nhưng không nhận lại hàng hoá hoặc dịch vụ nào). Mục

này chiếm 23% tổng chỉ tiêu của Chính phủ Liên bang trong năm 1299 và ngày càng trở nên quan trọng hơn. Quy mô của nó ngày càng tăng vì tuổi thọ tăng và tỷ suất sinh giảm đã làm cho số người già tăng nhanh hơn dân số. Phần lớn các nhà phân tích cho rằng xu hướng này sẽ tiếp tục trong nhieu nam nữa.

Mục chỉ tiêu lớn thứ hai là chỉ cho quốc phòng. Nó bao gồm cả tiền lương trả cho quân nhân và mua sắm trang thiết bị quân sự như súng, máy bay chiến

đấu và tàu chiến. Chỉ tiêu cho quốc phòng biến động theo thời gian, tuỳ thuộc

vào tình hình căng thẳng quốc tế và những thay đổi trong bầu không khí chính trị. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chỉ phí quốc phòng tăng mạnh trong thời chiến.

283

Mục thứ ba là chỉ cho bảo đảm thu nhập, trong đó có trợ cấp thu nhập trực tiếp cho các gia đình nghèo. Một chương trình thuộc loại này là Chương trình trợ giúp tạm thời cho các gia đình khó khăn, thường được gọi đơn giản là chương trình “phúc lợi”. Một chương trình khác là Chương trình tem thực phẩm nhằm cung cấp phiếu mua thực phẩm cho các gia đình nghèo. Chính phủ Liên bang trả một phần số tiền này cho chính quyền các bang và địa phương để họ quản lý theo hướng dẫn của Chính phủ Liên bang.

Khoản chi nhỏ hơn khoản chỉ bảo đảm thu nhập một chút là lãi suất ròng.

Khi một người vay tiền ngân hàng, ngân hàng yêu cầu người đi vay trả lãi suất cho tiền vay. Khi Chính phủ vay tiền của công chúng thì cũng vậy. Chính phủ càng nợ nhiều, số tiền thanh toán lãi suất càng lớn.

Chăm sóc y tế, khoản chỉ tiếp theo trong bảng 12.4, là chương trình của Chính phủ phục vụ cho việc chăm sóc y tế của người già. Mục chỉ này tăng mạnh trong thời gian qua vì hai lý đo. Thứ nhất, số người già đã tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng dân số. Thứ hai, chỉ phí chăm sóc y tế tăng nhanh hơn chỉ phí cho các hàng hoá và dịch vụ khác. Khoản chỉ ngân sách này tăng nhanh là một lý do dẫn tới việc tổng thống Clinton và những người khác đẻ xuất cải cách hệ thống chăm sóc y tế,

Loại Số tiên Số tiên trên đầu Phần trăm trong . (ty dé la) người (đô la) tổng chỉ tiêu (%)

Bảo hiểm xã hội 393 1.445 23

Quốc phòng 277 1.018 16

Bảo đảm thu nhập 243 893 14

Lãi suất ròng 227 835 13

Ye 205 7154 12

Chăm sóc sức khoẻ 143 526 8

Các khoản chỉ khác 239 879 14

Tổng 1727 6.350 100

Nguồn: Báo cáo kinh tế của Tổng thống, 1909, bảng B.80

Bảng 12.4. Các khoản chỉ của Chính phủ Liên bang: 1999, _ Khoản chỉ tiếp theo là chỉ cho việc chăm sóc sức khoẻ ngoài mục chỉ cho y tế. Khoản này bao gồm trợ cấp thuốc men và chương trình sức khoẻ liên bang dành cho người nghèo. Nó bao gồm cả khoản chỉ cho công tác nghiên cứu thuốc chữa bệnh của Viện Y tế Quốc gia.

Mục “các khoản chỉ khác” trong bảng 12.4 bao gồm nhiều khoản chỉ nhỏ hơn của Chính phủ. Ví dụ, nó bao gồm kinh phí cấp cho hệ thống Toà án Liên bang, Các chương trình vũ trụ và trợ giúp nông nghiệp, tiền lương của các nghị sĩ Quốc hội và Tổng thống.

284

Bài 12. Thiết kế hệ thống thuế

Chắc bạn cũng nhận thấy rằng tổng nguồn thu của Chính phủ trong bảng 12.2 lớn hơn tổng chỉ tiêu trong bảng 12.4 là 79 tỷ đô la. Phần nguồn thu vượt quá chỉ tiêu này được gọi là thăng dư ngân sách. Khi thu ít hơn chỉ, người ta nói chính phủ bị thâm hụt ngân sách. Chính phủ trang trải thâm hụt ngân sách bằng cách vay tiền của công chúng. Khi có thặng dư ngân sách, chính phủ sử dụng phần thặng dư này để giảm bớt các khoản nợ đến hạn của mình.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 275 - 280)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)