NHỮNG MỐI LỢI VÀ TỔN THẤT CỦA NƯỚC NHẬP KHẨU

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 209 - 212)

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

II. NGƯỜI ĐƯỢC VÀ NGƯỜI MẤT DO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

2. NHỮNG MỐI LỢI VÀ TỔN THẤT CỦA NƯỚC NHẬP KHẨU

Bây giờ chúng ta hãy giả sử rằng trước khi có thương mại, giá thép trong nước cao hơn giá thế giới. Nếu nên thương mại tự do được chấp nhận, giá thép trong nước phải bằng giá thép thế giới. Như hình 9.4 cho thấy, lượng cung về thép trong nước thấp hơn lượng cầu về thép trong nước. Mức chênh lệch giữa lượng cung và lượng cầu về thép trong nước được đáp ứng bằng cách mua thép từ các nước khác. Vì vậy, Cô Lập trở thành nước nhập khẩu thép.

Giá thép

ung trong nước

Giá trước khi có thương mại

Giá sau khi có

thương mại

! .

N Cầu trong nước

Nhập khẩu !

+ ——-——y.

Lượng cung Lượng cầu Lượng thép trong nước trong nước

Hình 2.4. Thương mại quốc tế ở nước nhập khẩu. Khi chấp nhận thương mại, giá trong nước sẽ giảm xuống bằng mức giá thế giới. Đường cung cho chúng ta biết lượng thép được sản xuất trong nước và đường cầu cho chúng ta biết lượng thép tiêu dùng trong nước. Mức nhập khẩu bằng phần chênh lệch giữa lượng cẩu trong nước và lượng cung trong nước tại mức giá thế giới.

212

Bài 9. Thương mại quốc tế

Trong tình huống này, đường nằm ngang tại mức giá thế giới biểu thị đường cung của nước ngoài. Đường cung này hoàn toàn co giãn vì Cô Lập là một nước nhỏ và nó có thể mua bao nhiêu thép tuỳ ý tại mức giá thế giới.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét những cái được và cái mất do có thương mại.

Một lần nữa, chúng ta thấy không phải mọi người đều được lợi. Khi thương mại buộc giá trong nước phải giảm, người tiêu dùng trong nước được lợi (họ có thể mua thép với giá thấp hơn), nhưng người sản xuất trong nước bị thiệt (bây giờ họ phải bán thép với giá thấp hơn). Những thay đổi trong thặng dư của người sản xuất và người tiêu dùng được mô tả trong hình 9.5 và bảng 9.2 chỉ ra quy mô của những mối lợi và tổn thất này. Trước khi có thương mại, thặng dư của người tiêu dùng bằng phân diện tích A, thặng dư của người sản xuất bằng phần diện tích B+C và tổng thang du bang tổng diện tích A+B+C. Sau khi có thương mại, thặng dư của người tiêu dùng bằng phần diện tích A+B+D, thặng dư của người sản xuất bằng phần diện tích C và tổng thặng dư bằng tổng diện tích A+B+C+D.

Giá thép Cung trong nước

Giá trước khi có

thương mại

: ok Giá thế giới

Giá sau khi có Ì -.... `.

thương mại | Cầu trong nước

' ' 1

0 Lượngcâu Lượng cung Lượng thép trong nước trong nước

Hình 9.5. Tác động của thương mại quốc tế tới phúc lợi ở nước nhập khẩu. Khi giá trong nước giảm xuống bằng mức giá thế giới, người mua - trong nước được lợi (thang du của người tiêu dùng tăng từ A lên A+B+D) và người bán bị thiệt (thăng đư của người sản xuất giảm từ B+C xuống C).

Tổng thặng dư tăng một lượng bằng phân diện tích D. Điều này cho thấy thương mại quốc tế làm tăng phúc lợi kinh tế của đất nước với tư cách một tổng thể.

213

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

Trước khi có | Sau khicé thuong | Múc thay

thuong mai mai déi

Thặng dự của người tiêu dùng | A A+B+D +(B+D)

Thặng dư của người sẵn xuất | B+ CC Cc -B

Tổng thăng dư A+B+C A+B+C+D +D

Bảng 9.2. Sự thay đổi trong phúc lợi do thương mại tự đo: tình huống của nước nhập khẩu. Báng này ghỉ các thay đổi trong phúc lợi kinh tế phát sinh từ việc mở cửa thị trường cho thương mại quốc tế. Các chữ cái biểu thị phần điện tích được đánh dấu trong hình 9.5. Chú ý: phần diện tích D chỉ ra mức tăng trong tổng thang du và biểu thị mối lợi từ thương mại.

Những tính toán phúc lợi này cho thấy ai được và ai mất từ thương mại ở nước nhập khẩu. Người mua được lợi vì thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm bằng phần diện tích B+ÐD. Người bán bị thiệt vì thăng dư của người sản xuất giảm một lượng bằng phần diện tích B. Cái được của người mua vượt quá cái mất của người bán, và tổng thặng dư tăng thêm một lượng bằng phần diện tích Ð.

Phân tích trên về nước nhập khẩu đem lại hai kết luận tương tự những kết luận rút ra từ nước xuất khẩu:

© - Khi một nước cho phép thương mại và trở thành nước nhập khẩu một hàng hoá, người tiêu dùng hàng hoá này được lợi và người sản xuất trong nước sẽ

bị thiệt.

® Thuong mai lam tăng phúc lợi kinh tế của đất nước, hiểu theo nghĩa những mối lợi của người được vượt quá tổn thất của người mất.

Như vậy chúng ta đã hoàn tất phân tích của mình về thương mại. Bay gid chúng ta có thể hiểu được một trong các nguyên lý của kinh tế học nêu ra trong bài 1: thương mại làm cho mọi người đều được lợi. Nếu nước Cô Lập mở cửa thị trường thép cho thương mại quốc tế, thì sự thay đổi này sẽ làm cho một SỐ người được và một số người mất, cho dù cuối cùng Cô Lập trở thành nước xuất khẩu hay nhập khẩu thép. Song trong cả hai trường hợp, mối lợi của

người được đều vượt quá tổn thất của người mất. Cho nên, người được có thể bù cho người mất mà vẫn còn được lợi. Hiểu theo nghĩa này, thương mại làm cho mọi người đều được. Nhưng thương mại có zhực sự làm cho mọi người được lợi không? Có lẽ không. Trong thực tế, việc bù đắp cho người mất do thương mại quốc tế hiếm khi xảy ra. Nếu không có sự bù đắp như thế, việc mở cửa cho thương mại quốc tế là một chính sách làm tăng quy mô của chiếc bánh kinh tế, nhưng có thể làm cho một số người tham gia vào nên kinh tế nhận được miếng bánh nhỏ hơn.

214

Bài 9. Thương mại quốc tế

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 209 - 212)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)