CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 374 - 377)

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: DƯỢC PHẨM ĐỘC QUYỀN VẢ DƯỢC PHẨM NHÁI

V. CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN

Chúng ta vừa thấy rằng khác với thị trường cạnh tranh, thị trường độc quyên thất bại trong việc phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả. Các doanh nghiệp độc quyền sản xuất thấp hơn mức sản lượng mà xã hội mong muốn và kết quả là giá cả ở mức cao hơn chỉ phí cận biên. Các nhà hoạch định chính sách của chính phủ có thể giải quyết vấn đề độc quyền theo một trong bốn cách sau:

e _ Tìm cách làm cho các ngành độc quyền có tính cạnh tranh cao hơn.

e - Điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp độc quyền.

e Chuyển một số doanh nghiệp độc quyền tư nhân thành doanh nghiệp nhà nước.

© Khong lam gi ca.

1. THÚC DAY CANH TRANH BANG LUAT CHONG BOC QuyEN

Nếu Côla và Pepsi muốn sáp nhập, sự việc này sẽ được Chính phủ Mỹ xem xét kỹ càng trước khi nó có hiệu lực. Các luật sư và nhà kinh tế ở Bộ Tư pháp có thể quyết định rằng việc sáp nhập giữa hai công ty nước giải khát khống lồ làm cho thị trường nước giải khát ở Mỹ trở nên kém cạnh tranh hơn và cuối cùng sẽ làm giảm phúc lợi kinh tế của đất nước. Nếu đúng như vậy, Bộ Tư pháp đưa hành vi sáp nhập ra toà án và nếu quan toà đồng ý, hai công ty sẽ không được phép sáp nhập. Chính sách làm đó đã tạo ra vụ kiện không cho phếp người khổng lồ phần mềm Microsoft mua lai Intuit trong năm 1994.

380

Chính phủ có được quyền lực này đối với các ngành sản xuất tư nhân thông qua các đạo luật chống độc quyền với nhiều điều khoản nhằm hạn chế sức mạnh độc quyền. Đạo luật đầu tiên và quan trọng nhất trong số đó là Đạo luật Chống độc quyền Sherman, do Quốc hội Mỹ thông qua vào năm 1890 nhằm làm giảm sức mạnh thị trường của "các tổ hợp độc quyền” khổng lồ và đầy quyền lực, được coi là lũng đoạn nên kinh tế Mỹ vào thời kỳ đó. Đạo luật Clayton được thông qua vào năm 19]4 tăng cường quyền lực của Chính phủ Mỹ và trao cho nó quyền khởi kiện các doanh nghiệp tư nhân. Như Toà án tối cao Mỹ đã nhận định, các đạo luật chống độc quyền là "bản hiến chương toàn diện về tự do kinh tế nhằm bảo vệ sự cạnh tranh tự đo và không hạn chế với tư cách một nguyên

tắc thương mại”.

Các đạo luật chống độc quyền đem lại cho Chính phủ Mỹ nhiều công cụ để thúc đẩy cạnh tranh. Chúng cho phép Chính phủ Mỹ ngăn cản các vụ sáp nhập, chẳng hạn trường hợp sáp nhập giả định giữa Côla và Pepsi của chúng ta. Chúng cũng cho phép Chính phủ Mỹ chia nhỏ các công ty. Ví dụ vào năm 1984 Chính phủ Mỹ đã chia AT&T, công ty truyền thông khổng lồ, thành 8 công ty nhỏ hơn. Cuối cùng, chúng còn ngăn cấm các công ty phối hợp hoạt động với nhau theo cách làm cho thị trường trở nên kém cạnh tranh hơn. Chúng ta sẽ thảo luận một số cách sử dụng luật chống độc quyền trong bài 16.

Các đạo luật chống độc quyền đều có mặt lợi và mặt hại. Một số công ty sáp nhập không hề làm giảm cạnh tranh, mà cắt giảm được chỉ phí thông qua việc tổ chức sản xuất có hiệu quả hơn. Những ích lợi từ việc sáp nhập đôi khi được gọi là sự hiệp lực. Ví dụ, nhiều ngân hàng Mỹ đã sáp nhập trong những năm gần đây và bằng cách kết hợp nhiều nghiệp vụ với nhau, họ có thể cắt giảm số nhân viên hành chính. Nếu các đạo luật chống độc quyên có mục tiêu là làm tăng phúc lợi xã hội, thì chính phủ phải có khả năng xác định được trường hợp sáp nhập nào là đáng mong muốn, còn trường hợp nào thì không. Nghĩa là, họ phải có khả năng tính toán và so sánh ích lợi xã hội từ việc sáp nhập với chỉ phí của việc làm giảm cạnh tranh. Những người phê phán luật chống độc quyền tô ra hoài nghi khả năng chính phủ có thể thực hiện được các phân tích chi phí - ích lợi cần thiết với tính chính xác cao.

2. ĐIỀU CHỈNH

Một biện pháp khác mà chính phủ có thể sử dụng để giải quyết vấn để độc quyền là điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp độc quyền. Giải pháp này rất phổ biến trong trường hợp độc quyền tự nhiên, chẳng hạn đối với công ty điện và công ty cấp nước. Những công ty này không được phép bán hàng hoá và địch vụ với giá mà họ muốn. Thay vào đó, các cơ quan của chính phủ điều chỉnh giá bán của họ.

Chính phủ định ra giá nào cho nhà độc quyền tự nhiên? Câu hỏi này không dé gì tìm được lời giải đáp như ban đầu chúng ta tưởng. Người ta có thể cho 381

BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ VI MÔ

rằng giá quy định nên bằng chỉ phí cận biên của nhà độc quyền. Nếu giá bằng chi phi cận biên, người tiêu dùng sẽ mua mức sản lượng cho phép tối đa hoá tổng thang du va su phan bổ nguồn lực là có hiệu quả.

Song có hai vấn đề thực tiễn nảy sinh từ việc định giá theo chỉ phí cận biên của hệ thống điều chỉnh. Vấn đề thứ nhất được minh hoạ trong hình 15.9. Theo định nghĩa, nhà độc quyển tự nhiên có tổng chi phi bình quân giảm dân. Như chúng ta đã thảo luận trong bài 13, khi tổng chỉ phí bình quân giảm dần, chỉ phí cận biên nhỏ hơn chỉ phí bình quân. Nếu cơ quan điều chỉnh của chính phủ định giá bằng chi phí cận biên, giá quy định sẽ thấp hơn tổng chỉ phí bình quân của doanh nghiệp và các doanh nghiệp độc quyền bị thua lỗ. Thay vì phải chấp nhận mức giá thấp như vậy, doanh nghiệp độc quyền rời bỏ ngành.

Giá cả

Tổng chỉ phí

bình quân Tổng chỉ phí bình quân

Giá quy định

Chỉ phí cận biên Cầu

0 Sản lượng

Hình 15.9. Định giá theo chỉ phí cận biên cho nhà độc quyền tự nhiên. Do nhà độc quyền tự nhiên có tổng chỉ phí bình quân giảm dần, nên chỉ phí cận biên thấp hơn chỉ phí bình quân. Do vậy, nếu cơ quan điêu chỉnh yêu cầu nhà độc quyên tự nhiên phải bán với múc giá bằng chỉ phí cận biên, thì giá quy định sẽ thấp hơn tổng chỉ phí bình quân và anh ta bị thua lỗ.

Cơ quan điều chỉnh xử lý vấn để này theo nhiều cách, song không có giải pháp nào hoàn hảo. Một trong các giải pháp là trợ cấp cho doanh nghiệp độc quyền. Về cơ bản, chính phủ phải bù đắp khoản thua lỗ do việc định giá theo chỉ phí cận biên gây ra. Song để có tiền trợ cấp, chính phủ phải thu thuế và thuế lai gay ra ton thất tải trọng. Một cách khác là các nhà điều chỉnh cho phép nhà độc quyển bán với mức giá cao hơn chỉ phí cận biên. Nếu giá quy định này bằng tổng chỉ phí bình quân, nhà độc quyên sẽ có lợi nhuận kinh tế bằng không.

Nhưng việc định giá theo chỉ phí bình quân lại dẫn đến tồn thất tải trọng, bởi vì giá độc quyên không còn phản ánh chỉ phí cận biên của việc sản xuất hàng hoá nữa. Thực chất, việc định giá theo chỉ phí bình quân giống như một khoản thuế đánh vào hàng hoá mà nhà độc quyền bán ra.

382

Vấn đề thứ hai liên quan đến việc định giá theo chỉ phí cận biên của hệ thống điều chỉnh (cũng như theo chỉ phí bình quân) là nó không tạo ra động cơ để nhà độc quyền cắt giảm chỉ phí. Các doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh đêu tìm cách cắt giảm chỉ phí bởi vì chỉ phí thấp hơn hàm ý lợi nhuận cao hơn.

Song nếu nhà độc quyền bị điều chỉnh biết rằng cơ quan điều chỉnh giảm giá mỗi khi chỉ phí giảm, họ sẽ không được lợi gì từ việc cắt giảm chỉ phí. Trong thực tế, các cơ quan điều chỉnh giải quyết vấn đề này bằng cách cho phép doanh nghiệp độc quyên giữ lại một phần lợi nhuận thu được nhờ chỉ phí thấp hơn.

Đây là một thông lệ đòi hỏi chúng ta phải xa rời cách định giá theo chỉ phí cận biên ở mức độ nào đó.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 374 - 377)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)