TƯ DUY NHƯ MỘT NHÀ KINH TẾ

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 24 - 29)

Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có ngôn ngữ và cách tư duy riêng. Các nhà toán học nói về tiên đề, tích phân, không gian véc tơ. Các nhà tâm lý học nói về bản ngã, vô thức và sự bất hoà. Các luật sư nói về phân khu, hình sự và tuyên thệ.

Các nhà kinh tế cũng làm như vậy. Những thuật ngữ như cung, cầu, hệ số co giãn, lợi thế so sánh, thặng du của người tiêu dùng, tổn thất tải trọng là bộ phận cấu thành ngôn ngữ của các nhà kinh tế. Trong các bài tiếp theo, bạn sẽ gặp nhiều thuật ngữ mới và một số từ quen thuộc, nhưng được các nhà kinh tế sử dụng theo một nghĩa nhất định. Nhìn qua, ngôn ngữ mới này có vẻ bí hiểm.

Nhưng như các bạn sẽ thấy, giá trị của chúng là ở chỗ chúng đem lại cho bạn một cách tư duy mới, hữu ích về thế giới mà chúng ta đang sống.

Mục tiêu cao nhất của cuốn sách này là giúp bạn học cách tư duy của các nhà kinh tế. Dĩ nhiên, nếu không thể trở thành nhà toán học, nhà tâm lý học hoặc luật gia trong ngày một ngày hai, thì bạn cũng mất khá nhiều thời gian để học cách tư duy như một nhà kinh tế. Nhưng nhờ việc kết hợp hài hoà lý thuyết với các nghiên cứu tình huống và ví dụ về kinh tế học rút ra từ các bản tin thời sự, cuốn sách này mở ra cho bạn một cơ hội tuyệt vời để thực hành và phát triển kỹ năng đó.

Trước khi đi sâu vào chủ để chính và các chỉ tiết của kinh tế học, có lễ chúng ta nên điểm qua phương pháp tiếp cận của các nhà kinh tế khi họ nghiên

cứu thế giới. Vì vậy, bài này tập trung trình bày phương pháp luận của kinh tế học. Đâu là điểm đáng chú ý trong cách xử lý vấn đẻ của nhà kinh tế? Câu: “tư duy như một nhà kinh tế” có hàm ý gì?

I. NHÀ KINH TẾ VỚI TƯ CÁCH MỘT NHA KHOA HOC

Các nhà kinh tế cố gắng nghiên cứu đối tượng của mình với tính khách quan của nhà khoa học. Phương pháp nghiên cứu nên kinh tế của họ về cơ bản giống như phương pháp nghiên cứu vật chất của nhà vật lý, phương pháp nghiên cứu cơ thể sống của nhà sinh học. Họ nghĩ ra các lý thuyết, thu thập số liệu và sau đó phân tích chúng để chứng mình hay bác bỏ lý thuyết của mình.

25

Đối với những người mới học, việc coi kinh tế học là một khoa học có vẻ kỳ lạ. Xét cho cùng thì các nhà kinh tế không sử dụng ống nghiệm hay kính thiên văn. Nhưng bản chất của khoa học là phương pháp khoa học - nghĩa là phát triển và kiểm định các lý thuyết về phương thức vận hành của thế giới một cách vô tư. Phương pháp nghiên cứu này có thể sử dụng để nghiên cứu nền kinh tế quốc dân, giống như nó được sử dụng để nghiên cứu lực hấp dẫn của trái đất hoặc sự tiến hoá của các loài. Chính Anhxtanh cũng đã từng nói: "Khoa học chẳng qua chỉ là sự chất lọc các tư tưởng thường nhật".

Mặc dù nhận định của Anhxtanh đúng cả với các ngành khoa học xã hội như kinh tế học và các ngành khoa học tư nhiên như vật lý, nhưng mọi người thường không quen quan sát xã hội bằng con mất của nhà khoa học. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem các nhà kinh tế vận dụng lô gích của khoa học như thế nào để nghiên cứu phương thức vận hành của nền kinh tế.

1. PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC: QUAN SÁT, LÝ THUYẾT VÀ TIẾP TỤC QUAN SÁT

Theo một giai thoại thi Isắc Niutơn, nhà khoa học và toán học nổi tiếng của thế kỷ 17, đã.rất ngạc nhiên khi nhìn thấy một quả cam rơi từ trên cây xuống. Kết quả quan sát này khích lệ ông xây dựng lý thuyết vẻ sự hấp dẫn và lý thuyết của ông không những áp dụng cho quả cam rơi xuống đất, mà còn có thể áp dụng cho bất kỳ hai vật thể nào trong vũ trụ. Việc kiểm định lý thuyết của Niutơn sau đó đã cho thấy rằng nó đúng trong nhiều tình huống (mặc dù sau này Anhxtanh nhấn mạnh rằng nó không đúng trong mọi tình huống). Vì lý thuyết của Niutơn thành công đến như vậy trong việc lý giải các kết quả quan sát, nên hiện nay nó vẫn còn được giảng dạy trong chuyên ngành vật lý ở các trường đại học trên thế giới.

Táo động qua lại giữa lý thuyết và quan sát cũng xây ra trong lĩnh vực kinh tế học. Khi nhà kinh tế sống ở một nước đang trải qua giai đoạn giá cả tăng nhanh, anh ta sẽ cố gắng phát triển một lý thuyết về lạm phát vì bị thôi thúc bởi kết quả quan sát này. Lý thuyết mà anh ta thiết lập khẳng định rằng lạm phát cao xảy ra khi chính phủ in ra quá nhiều tiền. Để kiểm định lý thuyết này, nhà kinh tế thu thập và phân tích số liệu về giá cả và tiên tệ từ nhiều nước khác nhau. Nếu tốc độ tăng của lượng tiền không có mối liên hệ gì với tốc độ tăng giá, nhà kinh tế bắt đầu nghỉ ngờ tính chất đúng đấn của lý thuyết về lạm phát mà mình đưa ra. Nếu số liệu quốc tế cho thấy tốc độ tăng tiền và lạm phát có mối liên hệ tương quan chặt chẽ với nhau (và trên thực thế đúng là như vậy), thì nhà kinh tế tin tưởng hơn vào lý thuyết của mình.

_Mặc dù nhà kinh tế sử dụng lý thuyết và quan sát nhự các nhà khoa học khác, nhưng có một trở ngại làm cho nhiệm vụ của họ trở nên đặc biệt khó 26

Bài 2. Tư duy như một nhà kinh tế

khăn: thực nghiệm thường khó thực hiện trong kinh tế học. Nhà vật lý nghiên cứu lực hấp dẫn có thể thả nhiều vật rơi trong phòng thí nghiệm để thu thập số liệu phục vụ cho việc kiểm định lý thuyết của mình. Nhưng nhà kinh tế nghiên cứu lạm phát không được phép thay đổi chính sách tiền tệ quốc gia chỉ để tạo ra những số liệu cần thiết. Giống như nhà thiên văn và nhà sinh học nghiên cứu quá trình tiến hoá, nhà kinh tế thường phải bằng lòng với số liệu mà thế giới ngẫu nhiên trao cho họ.

Để tìm thứ thay thế cho thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, các nhà kinh tế theo sát các thực nghiệm tự nhiên do lịch sử để lại. Chẳng hạn, khi cuộc chiến ở Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung về dầu mỏ, giá đầu trên toàn thế giới tăng vọt. Đối với người tiêu dùng dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, sự kiện này làm giảm mức sống. Đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế, nó làm cho họ bối rối trong việc chọn cách phản ứng tốt nhất. Nhưng đối với các nhà khoa học kinh tế, nó là một cơ hội để nghiên cứu tác động của loại tài nguyên thiên nhiên then chốt tới các nên kinh tế trên thế giới và cơ hội này kéo dài cho đến khi sự gia tăng giá dầu trong cuộc chiến kết thúc. Bởi vậy trong cuốn sách này, chúng ta sẽ xem xét nhiều biến cố lịch sử. Các biến cố đó rất quý báu đối với công tác nghiên cứu, vì chúng cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về nên kinh tế trong quá khứ, và điều quan trọng hơn là chúng cho phép chúng ta minh hoạ và đánh giá các lý thuyết kinh tế hiện tại.

2. VAI TRÒ CỦA CÁC GIÁ ĐỊNH

Nếu bạn hỏi một nhà vật lý rằng viên đá cần bao nhiêu thời gian để rơi từ toà nhà 10 tầng xuống đất, anh ta sẽ trả lời câu hỏi này bằng cách giả định rằng viên đá rơi trong chân không. Dĩ nhiên giả định này sai. Trong thực tế, toà nhà được bao bọc bởi không khí và nó tạo ra ma sát, làm cho viên đá rơi chậm hơn.

Nhưng nhà vật lý có lý khi nói rằng ma sát cẩn trở hòn đá nhỏ đến mức có thể bỏ qua. Việc giả định hòn đá rơi trong chân không làm cho vấn đề trở nên đơn giản hơn rất nhiều mà không gây ra ảnh hưởng đáng kể đối với câu trả lời của nhà vật lý.

Nhà kinh tế cũng nêu ra các giả định vì lý do tương tự: giả định làm cho thế giới trở nên dễ hiểu hơn. Chẳng hạn, để nghiên cứu tác động của thương mại quốc tế, chúng ta có thể giả định rằng thế giới chỉ bao gồm 2 nước và mỗi nước chỉ sản xuất 2 hàng hoá. Dĩ nhiên trong thực tế, thế giới bao gồm nhiều nước, méi nước sản xuất hàng nghìn, hàng vạn hàng hoá khác nhau. Nhưng giả định hai nước và hai hàng hoá giúp chúng ta tập trung tư duy của mình. Sau khi đã hiểu được thương mại quốc tế trong thế giới tưởng tượng, chúng ta ở vào vị thế tốt hơn để hiểu thương mại quốc tế trong thế giới phức tạp hơn mà chúng ta đang sống.

27

Nghệ thuật tư duy khoa học - cho dù đó là vật lý, sinh học hay kinh tế - là quyết định đưa ra những giả định nào. Giả sử chúng ta thả quả bóng, chứ không phải viên đá từ nóc một toà nhà. Nhà vật lý của chúng ta hiểu rằng trong trường hợp này giả định không có ma sát rất không chính xác: ma sát tác động vào quả bóng một lực lớn hơn nhiều so với viên đá. Giả định rằng lực hấp dẫn phát huy tác dụng trong chân không tỏ ra hợp lý đối với việc nghiên cứu sự rơi của hòn đá, nhưng không hợp lý đối với việc nghiên cứu sự rơi của quả bóng.

Tương tự như vậy, các nhà kinh tế sử dụng các giả định khác nhau để lý giải những vấn để khác nhau. Giá sử chúng ta muốn nghiên cứu xem điều gì xảy ra đối với nên kinh tế khi chính phủ thay đổi lượng tiền mặt trong lưu thông. Khi nghiên cứu, chúng ta thấy rằng một vấn để quan trọng trong phân tích này là cách thức phản ứng của giá cả. Nhiều loại giá cả trong nền kinh tế thay đổi không thường xuyên; chẳng hạn giá bán lẻ của các tạp chí chỉ thay đổi sau một vài năm.

Việc nắm được thực tế này có thể đưa chúng ta tới những giả định khác nhau khi nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi chính sách trong các khoảng thời gian khác nhau. Để nghiên cứu những ảnh hưởng ngắn hạn của sự thay đổi chính sách, chúng ta có thể giả định rằng giá cả không thay đổi đáng kể. Tham chi, chúng ta có thể nêu ra giả định cực đoan và giả tạo rằng giá cả hoàn toàn không thay đổi.

Nhưng để nghiên cứu những ảnh hưởng dài hạn của chính sách, chúng ta nên giả định rằng tất cả các loại giá cả đều hoàn toàn linh hoạt. Tương tự như nhà vật lý sử dụng các giả định khác nhau khi nghiên cứu sự rơi của hòn đá và quả bóng, nhà kinh tế sử dụng các giả định khác nhau khi nghiên cứu ảnh hưởng ngắn hạn

và dài hạn của sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ.

3. MÔ HÌNH KINH TẾ

Các giáo sư dạy môn sinh học ở trường đại học sử dụng bản sao cơ thể con người làm bằng chất dẻo để giảng phần đại cương về giải phẫu. Mô hình này có đủ các cơ quan chủ yếu - tỉm, gan, thận và v.v... Nó cho phép vị giáo sự đáng kính chỉ cho sinh viên thấy cách thức đơn giản nhất để các bộ phận khác của của cơ thể gắn kết với nhau. Dĩ nhiên, mô hình bằng chất dẻo này không phải

cơ thể con người thực sự và không ai nhầm lẫn giữa mô hình và con người thực sự. Các mô hình được sản xuất theo một khuôn mẫu nhất định và chúng bỏ qua nhiều chỉ tiết. Nhưng cho dù thiếu thực tế - và đĩ nhiên cũng chính vì thiếu thực tế - việc nghiên cứu mô hình này rất hữu ích khi chúng ta muốn tìm hiểu phương thức hoạt động của cơ thể con người.

Các nhà kinh tế cũng sử dụng mô hình để tìm hiểu nên kinh tế. Song thay cho việc sử dụng chất dẻo, họ sử dụng đồ thị và phương trình để thiết lập mô hình kinh tế. Giống như mô hình bằng chất dẻo của vị giáo sư sinh học, mô hình kinh tế bỏ qua nhiều chỉ tiết để giúp chúng ta nhận thức được cái thực sự quan 28

Bai 2. Tu duy nhu mot nha kinh té

trọng. Cũng giống như mô hình của vị giáo sư sinh học không bao gồm các sợi cơ và mao mạch của cơ thể, mô hình của các nhà kinh tế không bao gồm mọi thuộc tính của nền kinh tế.

Khi sử dụng mô hình để phân tích các vấn để kinh tế khác nhau trong suốt cuốn sách này, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả các mô hình đều được xây dựng trên cơ sở các giả định. Cũng giống như nhà vật lý bất đầu phân tích sự rơi của hòn đá bằng cách giả định không tồn tại ma sát, các nhà kinh tế giả định rằng nhiều chỉ tiết của nền kinh tế không tồn tại. Cho dù trong lĩnh vực vật lý, sinh học hay kinh tế, tất cả các mô hình đều là sự đơn giản hoá hiện thực nhằm cải thiện hiểu biết của chúng ta.

4. MÔ HÌNH ĐẦU TIÊN CỦA CHÚNG TA: BIỂU ĐỒ VÒNG CHU CHUYỂN

Nên kinh tế bao gồm hàng triệu con người tham gia vào rất nhiều hoạt động như mua, bán, lao động, thuê công nhân, sản xuất và v.v... Để hiểu được nền kinh tế hoạt động như thế nào, chúng ta phải tìm ra một cách để đơn giản hoá tư duy của mình về những hoạt động này. Nói cách khác, chúng ta cần một mô hình để lý giải dưới hình thức tổng quát cách thức tổ chức của nến kinh tế và phương thức tác động qua lại giữa những người tham gia vào nền kinh tế.

Các hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác với nhau trên hai loại thị trường.

Trên thị trường hàng hoá và dịch vụ, hộ gia đình là người mua, còn doanh nghiệp là người bán. Cụ thể, hộ gia đình mua sản lượng hàng hoá và dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Trên ?hj trường nhân tố sản xuất, hộ gia đình là người bán, còn doanh nghiệp là người mua. Trên thị trường này, hộ gia đình cung cấp cho doanh nghiệp những đầu vào mà họ sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Biểu đồ vòng chu chuyển đem lại một cách đơn giản để minh hoạ cho phương thức tổ chức các giao dịch kinh tế giữa hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Vòng trong của biểu đổ vòng chu chuyển biểu thị luồng hàng hoá và dịch vụ giữa các hộ gia đình và doanh nghiệp. Hộ gia đình bán quyển sử dụng lao động, đất đai và tư bản của mình cho doanh nghiệp trên thị trường nhân tố sản xuất. Sau đó, doanh nghiệp sử dụng những đầu vào nhân tố này để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhằm mục đích bán cho các hộ gia đình trên thị trường hàng hoá và dịch vụ. Bởi vậy, các nhân tố sản xuất chảy từ hộ gia đình sang doanh nghiệp, còn hàng hoá và dịch vụ chảy từ doanh nghiệp sang hộ gia đình.

Vòng ngoài của biểu đồ vòng chu chuyển biểu thị các luồng tiền tương ứng.

Hộ gia đình chỉ tiêu tiền để mua hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng một phần thu nhập kiếm được từ hoạt động bán hàng này (thường gọi tất là doanh thu) để thanh toán cho các nhân tố sản xuất, chẳng hạn 29

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 24 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)