THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
II. NGƯỜI ĐƯỢC VÀ NGƯỜI MẤT DO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
4. TÁC ĐỘNG CỦA HẠN NGẠCH NHẬP KHẨU
Tiếp theo, các nhà kinh tế Cô Lập xem xét những ảnh hưởng của hạn ngạch nhập khẩu - tức giới hạn về lượng nhập khẩu. Cụ thể, chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng Chính phủ Cô Lập phân phát một số lượng giấy phép nhập khẩu có hạn.
Mỗi giấy phép trao cho người được cấp phép quyên nhập khẩu l tấn thép từ nước ngoài vào Cô Lập. Các nhà kinh tế Cô Lập muốn so sánh phúc lợi trong điều kiện thực hiện chính sách thương mại tự do với phúc lợi trong trường hợp có hạn ngạch nhập khẩu này.
Hình 9.7 chỉ ra tác động của hạn ngạch nhập khẩu đối với thị trường thép ở Cô Lập. Vì hạn ngạch nhập khẩu không cho người Cô Lập nhập khẩu nhiều thép như mức họ muốn từ nước ngoài, nên cung về thép bây giờ không còn co giãn hoàn hảo tại mức giá thế giới nữa. Thay vào đó, trong chừng mực mà giá thép trong nước còn cao hơn giá thế giới, những người được cấp phép còn nhập khẩu nhiều như mức họ được phép và tổng mức cung vẻ thép ở Cô Lập bằng mức cung trong nước cộng với hạn ngạch nhập khẩu. Điều này hàm ý đường
cung nằm trên mức giá thế giới dịch chuyển vẻ phía phải một đoạn đúng bằng hạn ngạch nhập khẩu. (Đường cung nằm dưới mức giá thế giới không dịch chuyển vì trong trường hợp này, việc nhập khẩu không đem lại lợi nhuận cho người được cấp phép.)
217
BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ VI MÔ
Giá thép
Cung trong nước
Trang thai can bang khi không có
thương mại
;“Cung trong nước
„„ˆ + Cung nhập khẩu
uế chap”
khẩu „ a
An 3
wt Trang thai can bang F---—- f— - ~ - - - 8 khi có hạn ngạch
Giá thế giới
Giá có hạn ngạch ở Cô Lập
Giá không Giá
có hạn = thế 'ehi sgb ; '
h lới ¡khi có hạn | .
ngọn giới gach |: 1C4u t ong nước
0. Ơỉ, ỉ, @°, 0", Litong thộp
Nhập khẩu khi
không có hạn ngạch
Hình 9.7. Tác động của hạn ngạch nhập khẩu. Giống như thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu làm giảm lượng nhập khẩu và chuyển thị trường theo hướng tiến tới trạng thái cân bằng tôn tại khi không có thương mại quốc tế. Tổng phúc lợi kinh tế giảm một lượng bằng phần diện tích D+F. Hai tam giác này biểu thi mức tổn thất tải trọng do thuế nhập khẩu gây ra. Ngoài ra, hạn ngạch nhập khẩu chuyển phần thu nhập E'+E” cho người được cấp hạn ngạch nhập khẩu.
Trước hạn ngạch |_ Sau hạn ngạch Mức thay đổi
Thang dư của người t.dùng A+B+C+D A+B -(C+D+E’
+E+E”+Ƒ +È+F)
Thăng dư của người s.xuất G C+G +C
Thăng dư của người có Không E+E" +(E'+E”)
giấy phép nhập khẩu
Tổng thăng dư A+B+C+D+E’ A+B+C -(D + F)
+È +F+rG +È +E”+G
Bảng 9.4. Sự thay đối trong phúc lợi do hạn ngạch nhập khẩu. Bảng này so sánh phúc lợi khi thương mại không bị hạn chế và khi thương mại bị hạn chế bởi hạn ngạch nhập khẩu. Các chữ cái biểu thị những phần diện tích được đánh dấu trong hình 9.7. Chú ý: Phần diện tích D + F chỉ ra mức giảm tổng thặng dư và biểu thị tốn thất tải trọng của hạn ngạch nhập khẩu.
Giá thép ở Cô Lập điều chỉnh để tạo ra sự cân bằng giữa cung (trong nước và nhập khẩu) và cầu. Như hình 9.7 cho thấy, hạn ngạch làm cho giá thép tăng lên trên giá thế giới, người bán trong nước được lợi, còn người mua trong nước 218
Bai 9. Thuong mai quốc tế
bị thiệt. Lượng cầu trong nước giảm từ @°?, xuống @°; và lượng cung trong nước tăng từ Ở°, lên @';. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hạn ngạch nhập khẩu làm giảm lượng thép nhập khẩu.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét những mối lợi và tổn thất phát sinh từ hạn ngạch. Vì hạn ngạch làm cho giá trong nước tăng lên trên giá thế giới, nên người bán trong nước được lợi và người mua trong nước bị thiệt. Ngoài ra, người có giấy phép được lợi vì họ kiếm được lợi nhuận từ việc mua theo giá thế giới và bán với giá trong nước cao hơn. Để tính toán các mối lợi và tổn thất, chúng ta hãy xem xét những thay đổi trong thặng dư của người sản xuất, thặng dư của người tiêu dùng và thặng dư của người được cấp phép, như được chỉ ra trong bảng 9.4.
Trước khi chính phủ áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, giá trong nước bằng giá thế giới. Thặng dư của người tiêu dùng, tức phần diện tích nằm giữa đường cầu và giá thế giới, bằng tổng diện tích A+B+C+D+E'+E”+F. Thăng dư của người sản xuất, tức phần điện tích nằm giữa đường cung và giá thế giới, bằng diện tích G. Thặng dư của người được cấp phép bằng 0, vì không có giấy phép nhập khẩu.
Tổng thặng dư, tức tổng thặng dư của người sản xuất và người tiêu dùng, bằng tổng diện tích A+B+C+D+E '+E”+F+G.
Khi chính phủ áp dụng han ngạch nhập khẩu và cấp giấy phép, giá trong nước vượt quá giá thế giới. Người tiêu dùng trong nước nhận được mức thặng dư bằng phần diện tích A+ và người sản xuất trong nước nhận được mức thặng dư bằng phần điện tích C+G. Người được cấp phép nhận kiếm được lợi nhuận cho mỗi đơn vị nhập khẩu bằng mức chênh lệch giữa giá thép ở Cô Lập và giá thế giới. Tổng mức thặng dư của họ bằng mức chênh lệch giá cả nhân với lượng nhập khẩu. Bởi vậy, nó bằng diện tích của hình chữ nhật E+E ”. Tổng thặng dư khi có hạn ngạch bằng tổng diện tích A+B+C+E'+E”+G.
Để xác định xem phúc lợi thay đổi như thế nào khi áp dụng hạn ngạch,
chúng ta cộng những thay đổi trong thặng dư của người tiêu dùng (mang giá trị
âm), thặng dư của người sản xuất (mang giá trị dương) và thặng dư của người được cấp phép (mang giá trị đương) lại với nhau. Chúng ta nhận thấy rằng tổng thặng dư trên thị trường giảm một lượng bằng phần diện tich D+F. Su giảm sút tổng thặng dư này biểu thị tổn thất tải trọng của hạn ngạch nhập khẩu.
Phân tích này trông có vẻ hơi quen. Dĩ nhiên, nếu so sánh phân tích về hạn ngạch trong hình 9.7 với phân tích về thuế nhập khẩu trong hình 9.6, bạn sẽ thấy rằng về cơ bản chúng đồng nhất với nhau. Cả thuế nhập khẩu và hạn ngạch đêu làm tăng giá hàng hoá trong nước, làm giảm phúc lợi của người tiêu dùng trong nước, làm tăng phúc lợi của người sản xuất trong nước và gây r4 tổn thất tải trọng. Sự khác nhau duy nhất của hai loại biện pháp hạn chế thương mại này là: thuế làm tăng nguồn thu của chính phủ (phần diện tích È trong. hình 219
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
9.6), còn hạn ngạch nhập khẩu tạo ra thặng dư cho người được cấp phép (phần diện tích E'+E” trong hình 9.7).
Chúng ta còn có thể làm cho thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu trông giống nhau hơn nữa. Giả sử Chính phủ tìm cách thu lại phần thặng dư của người được cấp phép bằng cách thu lệ phí cấp phép. Một giấy phép để bán một tấn thép có giá trị đúng bằng phần chênh lệch giữa giá thép ở Cô Lập và giá thế giới, do vậy Chính phủ có thể thu lệ phí cấp phép cao bằng mức chênh lệch giá này. Nếu Chính phủ làm điều đó, lệ phí cấp phép có tác dụng giống hệt thuế nhập khẩu; thặng dự của người tiêu dùng, thặng dư của người sản xuất và nguồn thu của Chính phủ hoàn toàn giống nhau trong hai chính sách nay.
Song trên thực tế, các nước hạn chế thương mại bằng hạn ngạch ít khi bán giấy phép nhập khẩu. Chẳng hạn Chính phủ Mỹ đã có lần ép Nhật “tự nguyện”
hạn chế mức bán ô tô Nhật ở Mỹ. Trong tình huống này, Chính phủ Nhật phân bổ hạn ngạch cho các doanh nghiệp Nhật và thặng dư từ các giấy phép (phần diện tích E+E”) thuộc về các doanh nghiệp này. Xét theo quan điểm phúc lợi của Mỹ, loại hạn ngạch nhập khẩu này chắc chắn gây tổn thất lớn hơn thuế nhập khẩu của Mỹ đánh vào ô tô nhập khẩu. Cả thuế nhập khẩu và hạn ngạch đều làm tăng giá, hạn chế thương mại và gây ra tổn thất tải trọng, nhưng ít nhất thuế nhập khẩu cũng tạo ra nguồn thu cho Chính phủ Mỹ, chứ không phải cho các công ty ô tô của Nhật.
Mặc dù trong phân tích của chúng ta cho đến nay về thuế nhập khẩu và hạn ngạch có vẻ gây ra tổn thất tải trọng tương tự nhau, nhưng hạn ngạch có thể gây ra mức tổn thất tải trọng lớn hơn, tuỳ theo cơ chế được sử dụng để phân bổ giấy phép nhập khẩu. Giả sử khi Cô Lập áp dụng hạn ngạch, mọi người đều hiểu rằng giấy phép sẽ được cấp cho những người chỉ hầu hết nguồn lực để vận động hành lang đối với Chính phủ Cô Lập. Trong tình huống đó, chúng ta thấy có một khoản lệ phí cấp phép ngầm - đó là chỉ phí cho việc vận động hành lang.
Đáng lẽ những nguồn thu từ lệ phí này được Chính phủ thu, thì lại trở thành chi phí vận động hành lang. Tổn thất tải trọng loại từ loại hạn ngạch này không chỉ bao gồm những tổn thất do việc sản xuất quá nhiều (phần diện tích D) và tiêu dùng quá ít (phần diện tích F), mà còn bao gồm cả một phần thang du mà người được cấp phép (phần diện tích E'+E ”) chị tiêu lãng phí để vận động hành lang.