THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
II. NGƯỜI ĐƯỢC VÀ NGƯỜI MẤT DO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. CÁC MỐI LỢI VÀ TỔN THẤT CỦA NƯỚC XUẤT KHẨU
Hình 9.2 mô tả thị trường thép của Cô Lập với giá cân bằng trong nước trước khi có thương mại thấp hơn mức giá thế giới. Khi cho phép thương mại tự do, giá trong nước sẽ tăng lên bằng giá thế giới. Không người bán nào chấp
nhận giá thấp hơn giá thế giới và không người mua nào trả giá cao hơn giá thế giới.
Với giá trong nước bằng giá thế giới, lượng cung trong nước khác với lượng cầu trong nước. Đường cung chỉ ra lượng cung về thép mà người bán ở Cô Lập sẩn sàng cung ứng. Đường cầu chỉ ra lượng cầu về thép của người mua ở Cô Lập. Vì lượng cung trong nước lớn hơn lượng cầu trong nước, nên Cô Lập bán
thép sang các nước khác. Như vậy, Cô Lập trở thành nhà xuất khẩu thép.
209
Giá thép Cung trong nước
Giá sau khi Giá thế giới
cú thương mại Ƒ" ơẾ tha nh00nnamreo 1 t
Giá tước khi __ _ \ có thương mại i
t 1 L
Cầu trong nước
Xuất khẩu
. ‘
0 Luong câu Luong cung tượng thép
trong nước trong nước
Hình 9.2. Thương mại quốc tế ở nước xuất khấu. Khi chấp nhận thương mại, giá cả trong nước sẽ tăng lên bằng mức giá thế giới. Đường cung cho chúng ta biết lượng thép được sản xuất trong nước và đường cầu cho chúng ta biết lượng tháp tiêu dùng trong nước: Xuất khẩu từ Cô Lập bằng phần chênh lệch giữa lượng cung trong nước và lượng cầu trong nước tại mức giá thế giới.
Mặc dù lượng cung và lượng cầu trong nước khác nhau, nhưng thị trường thép vẫn cân bằng vì giờ đây còn có những người tham gia thị trường khác:
phần còn lại của thế giới. Người ta có thể coi đường nằm ngang tại mức giá thế giới là đường biểu thị đường cầu về thép của phần còn lại của thế giới. Đường cầu này co giãn hoàn hảo vì với tư cách nền kinh tế nhỏ, Cô Lập có thể bán thép sang các nước khác nhiều như nó muốn tại mức giá quốc tế.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét những cái được và cái mất từ việc mở cửa nền thương mại. Rõ ràng không phải mọi người đều có lợi. Thương mại đẩy giá trong nước tăng lên mức giá thế giới. Các nhà sản xuất thép trong nước được lợi vì giờ đây họ có thể bán thép với giá cao hơn, nhưng người tiêu dùng thép trong nước bị thiệt vì họ phải mua thép với giá cao hơn.
- Để tính toán các mối lợi và tổn thất này, chúng ta hãy quan sát những thay doi trong thặng dư của người sản xuất và thặng dư của người tiêu đùng được mô tả trong hình 9.3 và tóm tắt trong bảng 9.1. Trước khi cho phép thương mại, giá thép điều chỉnh để cân bằng cung cầu trong nước. Thặng dư của người tiêu dùng, tức phần diện tích nằm giữa đường cầu và giá trước khi có thương mại, bang A+B. Thang du cia người sản xuất, tức phần diện tích nằm giữa đường cung và giá trước khi có thương mại, bằng C. Tổng thặng dư trước khi có thương mại, tức tổng thang dư của người sản xuất và thặng dư của người tiêu dùng, bằng tổng diện tích A+B+C.
210
Bài 9. Thương mại quốc tế
Giá thé P Cung trong nước
Xuất khẩu Giá sau khi
có thương mại Giá thế giới
Giá trước khi có thương mại
Cầu trong nước
0 Lượng thép
Hình 9.3. Tác động của thương mại quốc tế tác động tới phúc lợi ở nước xuất khẩu. Khi giá trong nước tăng lên bằng mức giá thế giới, các nhà sản xuất trong nước được lợi (thăng dư của người sản xuất tăng từ C lén B+C+D) va người mua bị thiệt (thăng dư của người tiêu dùng giảm từ A+B xuống A). Tổng thăng dư tăng một lượng bằng phần diện tích D. Điều này cho thấy thương mại quốc tế làm tăng phúc lợi kinh tế của đất nước với tư cách một tổng thể.
Trước khi có | Sau khi có thương | Mức thay dổi
thương mại mại
Thặng dư của người tiêu dùng | A+B A -B
Thặng dư của người sẵn xuất | C B+C+D +(B+D)
L Tổng thăng dự A+B+C A+B+C+D |+D
Bảng 9.1. Sự thay đổi trong phúc lợi do thương mại tự do: Tình huống của nước xuất khẩu. Bảng này ghi các thay đổi trong phúc lợi kinh tế phát sinh từ việc mở cửa thị trường cho thương mại quốc tế. Các chữ cái biểu thị phần điện tích được đánh dấu trong hình 9.3. Chú ý: phần diện tích D chỉ ra mức tăng trong tổng thặng dư và biểu thị mối lợi từ thương mại.
Sau khi cho phép thương mại, giá trong nước sẽ tăng lên bằng mức giá thế giới. Thang du cia cha người tiêu dùng bằng phần diện tích A (diện tích nằm giữa đường cầu và giá thế giới). Thặng dư của người sản xuất bằng phần diện tích B+C+D (diện tích nằm giữa đường cung và giá thế giới). Như vậy, tổng thặng dư khi có thương mại bằng phần diện tích A+B+C+Ð.
Những tính toán về phúc lợi này cho thấy ai được và ai mất từ thương mại ở nước xuất khẩu. Người bán được lợi vì thặng dư của người sản xuất tăng thêm một lượng bằng phần diện tích B+Ð. Người mua bị thiệt vì thặng dư của người 21
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
tiờu dựng giảm một lượng bằng phần diện tớch ệ. Vỡ cỏi được của người bỏn vượt quá cái mất của người mua một lượng bằng phần diện tích 7), nên tổng thăng dư của nước Cô Lập tăng lên.
Phân tích này về nước xuất khẩu đưa chúng ta đến hai kết luận:
* Khi một nước cho phép thương mại và trở thành nhà xuất khẩu một hàng hoá, người sản xuất trong nước của hàng hoá đó được lợi, người tiêu dùng trong nước của hàng hoá đó bị thiệt.
¢ Thuong mai lam tang phtic loi kinh tế của đất nước, hiểu theo nghĩa những mối lợi của người được vượt quá tổn thất của người mất.