MAT CUA CUNG MOT VAN ĐỀ
III. TRẠNG THÁI CÂN BẰNG TRÊN TH TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Cho tới giờ chúng ta đã đưa ra được hai thực tế về cách xác định tiền lương trên các thị trường lao động cạnh tranh:
¢ Tién luong điều chỉnh để cân bằng cung và cầu về lao động.
® - Tiên lương bằng giá trị sản phẩm cận biên của lao động.
Khi mới nhìn qua, người ta có thể ngạc nhiên không hiểu tại sao tiền lương làm được hai việc này cùng một lúc. Thực ra, day không phải là điều khó hiểu, song việc nắm được nguyên nhân làm cho điều này không phải khó hiểu lại là một bước quan trọng trong việc tìm hiểu cách xác định tiền lương.
Tiển hương, W {gid cua dich vu lao động)
Tiền lương cân bằng, W*
Câu, D
Lượng lao Lượng lao động, L động cân bằng, L*
Hình 18.4. Trạng thái cân bằng trên thị trường lao động. Giống như các loại giá cả khác, giá của dịch vụ lao dong (tién luong) ciing phụ thuộc vào cung và cầu. Do đường cầu phản ánh giá trị sản phẩm cận biên của lao động, nên Irong trạng thái cân bằng, người lao động nhận được giá trị đóng góp cận biên của họ vào quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
461
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Hình 18.4 mô tả trạng thái cân bằng của thị trường lao động. Tiền lương và lượng lao động điều chỉnh để cân bằng cung và cầu. Khi thị trường nằm trong trạng thái cân bằng, doanh nghiệp thuê tất cả những lao động mà họ cho rằng sẽ đem lại lợi nhuận tại mức tiền lương cân bằng. Nghĩa là, các doanh nghiệp luôn
luôn tuân thủ quy tắc tối đa hoá lợi nhuận: họ thuê lao động cho tới khi giá trị
sản phẩm cận biên bằng tiền lương. Cho nên, tiền lương phải bằng giá trị sản phẩm cận biên của lao động khi cung và cầu nằm trong trạng thái cân bằng.
Nhận định trên đem lại cho chúng ta một bài học quan trọng: Bất kỳ sự kiện nào làm thay đổi cung hoặc cầu về lao động cũng đồng thời làm tiền lương cân bằng và giá trị sản phẩm cận biên thay đổi một lượng như nhau, bởi vì chúng phải luôn luôn bằng nhau. Để biết bài học này đúng đến mức nào, chúng ta hãy
xét một vài sự kiện làm dịch chuyển đường cung và cầu về lao động.
1. SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA ĐƯỜNG CUNG VỀ LAO ĐỘNG
Giả sử sự đi cư làm tăng số lao động sẵn sàng hái cam. Như chúng ta thấy trong hình 18.5, đường cung về lao động sẽ dịch chuyển sang phải, từ S, tới 5).
Tại mức tiền lương ban đầu W¡, lượng cung về lao động giờ đây lớn hơn lượng cầu. Mức thặng dư lao động này tạo ra sức ép làm giảm tiền lương của người hái cam và sự giảm sút tiền lương từ W, xuống W; mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các doanh nghiệp, do đó họ thuê nhiều lao động hơn. Khi số lao động được thuê ở mỗi vườn cam tăng, sản phẩm cận biên và giá trị sản phẩm cận biên của lao động giảm. Tại trạng thái cân bằng mới, cả tiền lương và giá trị sản phẩm cận biên của lao động đều thấp hơn so với trước khi có sự nhập cư ồ ạt của những lao động mới.
Một câu chuyện từ Ixraen sẽ minh hoạ cho việc dịch chuyển của cung về lao
động có thể làm thay đối trạng thái cân bằng trên thị trường lao động như thế nào. Trong hầu hết những năm 1980, hàng nghìn người Palextin thường xuyên đi từ nhà họ thuộc bờ Tây và đải Gaza bị Ixraen chiếm đóng đến làm việc ở Ixraen, cht yếu là trong ngành xây dựng và nông nghiệp. Song vào năm 1988, sự bất ổn ở những khu vực chiếm đóng đó đã buộc chính phủ Ixraen phải thực hiện các biện pháp làm giảm số lao động này. Lệnh giới nghiêm được ban hành, giấy phép lao động bị kiểm tra kỹ càng hơn và lệnh cấm nghỉ qua đêm đối với những người Palextin ở Ixraen được thực hiện chặt chẽ hơn. Tác động kinh tế của những biện pháp này diễn ra đúng như lý thuyết dự đoán: số người Palextin có việc làm ở Ixraen giảm một nửa, trong khi những người tiếp tục làm việc Ở Ixraen được hưởng mức lương cao hơn khoảng 50%. Khi số người lao động Palextin ở Ixraen giảm, giá trị sản phẩm cận biên của những lao động tiếp tục làm việc này cao hơn rất nhiều.
462
Bài 18. Thị trường các nhân tố sản xuất
. Sự gia tăng của cầu về lao động 2...làm giảm
tiền lương 3...và làm tăng việc làm ` L, — Luong lao déng
Hình 18.5. Sự dịch chuyển của đường cung về lao động. Khí cung về lao động tăng từ S, lên Š„, có thể do có sự nhập cư của những lao động mới, thì tiền lương cân bằng sẽ giảm từ W, xuống còn W¿. Tại mức tiên lương thấp hơn này, các doanh nghiệp thuê thêm lao động, do vậy mức việc làm (tức mức lao động được sử dụng) tăng từ Lạ đến Lạ. Sự thay đổi của tiên lương phản ánh sự thay đổi trong giá trị sản phẩm cận biên của lao động; cùng với việc sử dụng nhiều lao động hơn, sản lượng tăng thêm từ mỗi đơn vị lao động thuê thêm cũng nhỏ hơn.
2. SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA ĐƯỜNG CẦU VỀ LAO ĐỘNG
Bay giờ giả sử sự gia tăng nhu cầu của mọi người về cam đã làm tăng giá cam. Sự gia tăng của giá cả này không hẻ làm thay đổi sản phẩm cận biên của lao động ở bất kỳ mức việc làm nào, song nó làm tăng giá trị sản phẩm cận biên. Với giá cam cao hơn, việc thuê thêm lao động hái cam giờ đây đem lại lợi nhuận. Như hình 18.6 cho thấy, khi đường cầu về lao động dịch chuyển từ Ð, tới Ð,, tiên lương cân bằng tăng từ W, đến W; và lượng lao động cân bằng tăng từ L, lén L,. Một lần nữa, tiền lương và giá trị sản phẩm cận biên lao động lại thay đổi cùng nhau.
Phân tích này cho thấy sự thịnh vượng của các doanh nghiệp trong một ngành nhất định thường liên quan đến sự thịnh vượng của những lao động trong ngành đó. Khi giá cam tăng, nhà sản xuất kiếm được nhiều lợi nhuận hơn và lao động hái cam nhận được tiền lương cao hơn. Khi giá cam giảm, nhà sản xuất cam kiếm được ít lợi nhuận hơn và lao động hái cam có tiền lương thấp hơn. Bài học này rất phổ biến đối với những lao động trong các ngành có giá cả thay đổi thường xuyên. Chẳng hạn, kinh nghiệm của những lao động trong ngành dầu khí cho thấy thu nhập của họ gắn chặt với giá dầu thô trên thế giới.
463
BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO
Tiển lương
1. Sự gia tăng của cầu về lao động 2...lăm tăng
tiền lương 1 1L Lượng lao động ...Và làm tăng việc làm
Hình 18.6. Sự dịch chuyển của đường cầu về lao động. Khi như cầu về lao động tăng từ D, lên D;, có thể do sự gia tăng giá sản phẩm của doanh nghiệp, tiền lương cân bằng tăng từ W, đến W; và mức việc làm tăng từ L, đến Lạ. Một lân nữa, sự thay đổi của tiên lương lại phản ánh sự thay đổi trong giá trị sản phẩm cận biên của lao động. Với giá sản phẩm cao hơn, sản lượng tăng thêm từ một lao động thuê thêm có giá trị cao hơn.
Từ những ví dụ trên, giờ đây bạn đã biết tiền lương được xác định như thế nào trên các thị trường lao động cạnh tranh. Cung và cầu về lao động cùng nhau
“xác định tiền lương cân bằng và sự dịch chuyển của đường cung hoặc đường cầu về lao động làm cho tiền lương cân bằng thay đổi. Đồng thời, sự theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp có nhu cầu thuê lao động đảm bảo cho tiền lương cân bằng luôn bằng giá trị sản phẩm cận biên của lao động.