CUNG, CẦU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 132 - 135)

Các nhà kinh tế đóng hai vai trò. Là nhà khoa học, họ xây dựng và kiểm định các lý thuyết để lý giải thế giới xung quanh mình. Là nhà hoạch định chính sách, họ sử dụng lý thuyết của mình vào mục đích làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Hai bài vừa qua đã tập trung vào vai trò nhà khoa học của họ. Chúng ta đã thấy cung và cầu quyết định giá cả và lượng hàng bán ra như thế nào. Chúng ta cũng đã thấy các sự kiện khác nhau làm thay đổi cung và cầu, qua đó làm thay đổi giá và lượng cân bằng như thế nào.

Bây giờ chúng ta chuyển sang nghiên cứu về chính sách. Chúng ta sẽ phân tích các loại chính sách khác nhau của chính phủ hoàn toàn bằng công cụ cung và cầu. Như các bạn sẽ thấy, phương pháp phân tích này đem lại một số hiểu biết đáng ngạc nhiên. Các chính sách thường gây ra những hậu quả mà các nhà hoạch định ra chúng không dự kiến từ trước.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc xem xét các chính sách kiểm soát giá cả trực tiếp. Ví dụ, luật về kiểm soát tiền thuê nhà quy định mức tiền thuê tối đa mà chủ nhà được phép thu từ người thuê nhà. Luật về tiền lương tối thiểu quy định tiền lương thấp nhất mà các doanh nghiệp được phép trả cho công nhân.

Những quy định về kiểm soát giá cả thường được đưa ra khi các nhà hoạch định chính sách tin rằng giá thị trường của một hàng hoá hay dịch vụ nào đó không công bằng đối với người mua hoặc người bán. Song như chúng ta sẽ thấy, chính

các chính sách này cũng có thể tạo ra sự bất công.

Sau khi đã thảo luận về các biện pháp kiểm soát giá cả trực tiếp, chúng fa chuyển sang xem xét ảnh hưởng của thuế. Các nhà hoạch định chính sách sử dụng thuế vừa để tác động vào kết cục thị trường, vừa để tạo nguồn thu phục vụ cho các mục tiêu công cộng. Cho đù tính phổ biến của thuế trong nền kinh tế của chúng ta rất rõ ràng, nhưng hiệu quả của chúng thì khó hiểu hơn. Ví dụ, khi chính phủ đánh thuế vào tiền lương mà doanh ¡nghiệp trả cho công nhân, doanh nghiệp hay công nhân phải chịu gánh nặng về thuế này? Câu trả lời chưa hoàn toàn rõ ràng - phải đợi cho tới khi chúng ta sử dụng các công cụ mạnh mẽ là cung và cầu.

134

I. CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT GIÁ CẢ

Để phân tích ảnh hưởng của biện pháp kiểm soát giá cả đối với kết cục thị trường, một lần nữa chúng ta lại xem xét thị trường kem. Như chúng ta đã thấy trong bài 4, nếu kem được bán trên thị trường cạnh tranh, không có sự can thiệp

của chính phủ, thì giá kem sẽ điều chỉnh để cân bằng cung và cầu: tại mức giá cân bằng, lượng kem mà người mua muốn mua đúng bằng lượng kem mà người bán muốn bán. Cụ thể, chúng ta giả sử giá cân bằng là 3 nghìn đồng một cốc kem.

Không phải ai cũng cũng vui mừng với kết cục của quá trình thị trường tự do này. Giả sử Hiệp hội những người ăn kem Việt Nam phàn nàn rằng giá kem 3 nghìn đồng là quá cao và mọi người không thể thưởng thức mỗi ngày một cốc

kem (mức tiêu dùng kem mà họ cho là hợp lý). Trong khi đó, Tổ chức Quốc gia của các nhà sản xuất kem lại kêu ca rằng mức giá 3 nghìn đồng - kết quả của sự

"cạnh tranh khốc liệt" - đang làm cho thu nhập của những người tham gia Hiệp hội quá thấp. Cả hai nhóm này đều vận động chính phủ thông qua một đạo luật nhằm thay đổi kết cục thị trường bằng cách kiểm soát giá cả trực tiếp.

Tất nhiên, do người mua bất kỳ hàng hoá nào cũng muốn có giá thấp hơn trong khi người bán lại muốn bán với giá cao hơn, cho nên lợi ích của hai nhóm người này xung đột nhau. Nếu nhóm người ăn kem thành công trong việc vận động hành lang, chính phủ sẽ thông qua mức giá tối đa cho kem, gọi là giá trần.

Nếu nhóm các nhà sản xuất kem thành công, chính phủ sẽ thông qua mức giá

tối thiểu, gọi là giá sản. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét ảnh hưởng của các chính

sách này.

1. TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ TRAN TOI KET CUC THỊ TRƯỜNG

Khi chính phủ áp đặt mức giá trần cho thị trường kem đo bị mủi lòng vì những lời ca thán của người ăn kem, hai kết cục có thể xảy ra. Trong phần (a) của hình 6.1, chính phủ định mức giá trần là 4 nghìn đồng một cốc kem. Trong trường hợp này, giá trần được coi là không ràng buộc do giá cân bằng cung cầu (3 nghìn đồng) thấp hơn giá trần. Các lực lượng thị trường sẽ đẩy thị trường kem về trạng thái cân bằng một cách tự nhiên và giá trần không gây ra ảnh hưởng gì.

Phan (b) của bình 6.1 chỉ ra một khả năng khác thú vị hơn. Trong trường hợp này, chính phủ ấn định giá trần là 2 nghìn đồng một cốc kem. Do giá cân bằng là 3 nghìn đồng, cao hơn giá trần, nên giá trần này không phải là một điều kiện ràng buộc trên thị trường. Các lực lượng cung cầu có xu hướng đẩy thị trường về mức giá cân bằng. Nhưng khi giá thị trường dụng vào giá trần, nó không thể tăng cao hơn nữa. Do đó, giá thị trường phải bằng giá trần. Tại mức giá này, lượng cầu về kem (125 cốc như trong hình vẽ) vượt quá lượng cung về 135

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

kem (75 cốc). Do xảy ra tình trạng thiếu hụt kem, nên một số người muốn mua kem ở mức giá cao hơn không mua được kem.

Giá Cung Giá

kem kem

Giá trần

4

Pi eee 3E --~—--- 3

ws ` Giá cân

GIá cin bằng bằng 2 Giá trần

¡ Thiếu hụt

1 1

0 a 100 Lượng kem 0 75 125 Lượng kem

Lượng cung Lượng cầu

Cầu Cầu

Lượng cân bằng

Hình 6.I. Thị trường với giá trần. Trong phân (a), chính phí định mức giá trần là 4 nghìn đồng. Do mức giá trần này cao hơn giá cân bằng là 3 nghìn đồng, nên nó không có tác dụng gì và thị trường có thể đạt tới trạng thái cân bằng cung cầu. Tại trạng thái cân bằng, lượng cung bằng lượng cầu là 100 cốc kem. Trong phân (b), chính phú định ra giá trần là 2 nghìn đông. Do giá trần này thấp hơn giá cân bằng là 3 nghìn đông, nên giá thị trường chỉ là 2 nghìn đồng. Tại mức giá này, lượng cầu bằng 125 cốc kem, nhưng lượng cung chỉ bằng 75 cốc kem. Do vậy, mức thiếu hụt là 50 cốc kem.

Khi tình hình thiếu hụt kem xảy ra do tác động của giá trần, một cơ chế nào đó sẽ tự nhiên phát sinh để phân phối lượng kem này. Cơ chế này có thể là nguyên tắc xếp hàng: Những người mua sắn sàng đến sớm và chờ đợi sẽ mua được kem, trong khi những người không sắn sàng chờ đợi không mua được kem. Hoặc người bán có thể phân phối số kem này theo sự thiên vị cá nhân của họ, chẳng hạn chỉ bán cho bạn bè, họ hàng, người cùng dân tộc hay chủng tộc.

Những trường hợp xấu hơn cũng có thể xảy ra. Chẳng hạn, một số người sử dụng tìm cách mua được kem với giá trần (nhờ xếp hàng sớm, móc ngoặc), sau đó bán lại cho những người muốn ăn kem với giá cao hơn và thị trường "chợ đen” xuất hiện.

Như vậy, mặc dù giá trần được đưa ra nhằm mục đích giúp đỡ người mua

kem, nhưng không phải tất cả người mua đều được hưởng lợi từ chính sách này.

Một số người được lợi vì được mua kem với giá thấp hơn, nhưng họ phải xếp hàng, trong khi những người khác không mua được một cốc kem nào.

Ví dụ về thị trường kem chỉ ra một nguyên tắc chung: Khi chính phú áp đặt giá trần ràng buộc trong thị trường cạnh tranh, tinh trang thiéu hut hang hod sé

136

phát sinh và người bán phải phân phối lượng hàng hoá khan hiểm này cho một số lớn người mua tiêm tang. Các cơ chế phân phối phát sinh dưới tác động của giá trần này hiếm khi đáng mong muốn. Việc xếp hàng dài là không có hiệu quả, vì nó làm mất thời gian của người mua. Sự phân biệt đối xử theo thiên kiến của người bán vừa không hiệu quả (vì hàng hoá không đến được người mua đánh giá nó cao nhất), vừa có khả năng không công bằng. Ngược lại, cơ chế phân phối trong thị trường cạnh tranh tự do vừa có hiệu quả, vừa khách quan. Khi thị trường kem đạt trạng thái cân bằng, bất kỳ ai muốn trả theo giá thị trường đều mua được kem. Thị trường tự do phân phối hàng hoá thông qua giá cả.

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 132 - 135)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)