THUẾ VÀ CÔNG BẰNG

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 286 - 289)

Từ khi những người dân định cư tại Mỹ đổ chè nhập khẩu xuống biển ở cảng Boston để phản đối mức thuế cao của Anh, chính sách thuế đã gây ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng nhất trong nền chính trị Mỹ. Tính chất nóng bỏng này thường không xuất phát từ hiệu quả. Nó xuất phát từ những bất đồng về việc gánh nặng thuế khoá cần được phân bổ như thế nào. Thượng nghị sĩ Russel Long đã có lần đã giêu cợt cuộc tranh luận công khai này bằng cách nói:

Đừng đánh thuế anh.

Đừng đánh thuế tôi.

Hãy đánh thuế vào gã đứng sau cái cây kia.

Tất nhiên nếu chúng ta muốn dựa vào chính phủ để có một số hàng hoá và dịch vụ cần thiết, thì ai đó sẽ phải đóng thuế. Trong phần này, chúng ta xem xét tính chất công bằng của hệ thống thuế. Gánh nặng thuế cần được phân bổ như thế nào cho mọi người? Làm thế nào để chúng ta đánh giá xem hệ thống thuế có 291

BAI GIANG NGUYEN LY KINH TE VIMO

hiệu quả không? Mọi người đều đồng ý rằng hệ thống thuế cần phải công bằng, nhưng vấn đề thế nào là công bằng và làm thế nào để xác định được tính chất công bằng của hệ thống thuế thì vẫn còn gây nhiều tranh cãi.

1. NGUYÊN TẮC ÍCH LỢI ĐƯỢC HƯỚNG

Một nguyên tắc của thuế, được gọi là nguyên tắc ích lợi được hưởng, cho rằng mọi người phải đóng thuế theo ích lợi mà họ nhận được từ các địch vụ của chính phủ. Nguyên tắc này coi hàng hoá công cộng giống như hàng hoá tư nhân. Việc một người hay đi xem phim trả nhiều tiền cho tổng số vé xem phim hơn người ít đi xem phim có vẻ công bằng. Cũng tương tự như vậy, người nhận được ích lợi lớn hơn từ hàng hoá công cộng phải trả nhiều tiền hơn người thu được ích lợi nhỏ hơn.

Ví dụ, nguyên tắc ích lợi được hưởng đôi khi được dùng để lý giải việc đánh thuế xăng dầu. Một số bang ở Mỹ sử dụng nguồn thu từ thuế xăng dầu để xây dựng và bảo dưỡng đường xá. Vì người mua xăng cũng là người sử dụng đường, nên thuế xăng dầu có thể được coi là cách công bằng để thanh toán cho dịch vụ này của chính phủ,

Nguyên tắc ích lợi được hưởng cũng có thể được sử dụng để lập luận rằng người giàu phải nộp thuế nhiều hơn người nghèo. Vì sao vậy? Đơn giản vì người giàu nhận được nhiều ích lợi từ các dịch vụ công cộng hơn. Ví dụ, chúng ta hãy xem xét ích lợi do sự bảo vệ của công an chống lại kể ăn cắp mang lại. Người có nhiều của cải cần bảo vệ nhận được nhiều ích lợi từ cảnh sát hơn nếu so với những người có ít của cải để bảo vệ. Vì vậy, theo nguyên tắc ích lợi được hưởng, người giàu phải đóng góp nhiều hơn người nghèo để có tiền duy trì lực jlượng cảnh sát. Lập luận tương tự cũng có thể được sử dụng cho nhiều địch vụ

công cộng khác như phòng hoả, quốc phòng và hệ thống toà án.

Thậm chí nguyên tắc ích lợi được hưởng còn có thể được sử dụng để lập

luận cho chương trình chống đói nghèo. Các chương trình này sử dụng tiền thuế đánh vào những người giàu. Như chúng ta đã thảo luận trong bai 11, con người thích được sống trong xã hội không có đói nghèo. Vì vậy, các chương trình chống đói nghèo là hàng hoá công cộng. Nếu người giàu đánh giá hàng hoá Công cộng này cao hơn người trung lưu, có thể chỉ vì người giàu có nhiều tiền

để chỉ tiêu hơn, thì theo nguyên tắc ích lợi được hưởng, họ cần bị đánh thuế nặng hơn để trả cho các chương trình này.

2. NGUYÊN TẮC KHẢ NĂNG NỘP THUẾ

Một cách khác để đánh giá tính công bằng của hệ thống thuế được gọi là nguyên tắc khả năng nộp thuế. N| guyên tắc này cho rằng thuế đánh vào một 292

Bài 12. Thiết kế hệ thống thuế

người cần dựa vào khả năng gánh vác gánh nặng thuế của người đó. Nguyên tắc này đôi khi được biện hộ bằng lý lẽ cho rằng mọi công dân cần có “sự hy sinh ngang nhau” để giúp chính phủ. Tuy nhiên, mức độ hy sinh của một người không chỉ phụ thuộc vào số thuế họ nộp, mà còn phụ thuộc vào thu nhập và những hoàn cảnh khác. Khoản thuế I nghìn đồng do người nghèo đóng có thể là sự hi sinh lớn hơn một khoản thuế 10 nghìn đồng do người giàu đóng.

Nguyên tắc khả năng nộp thuế dẫn đến hai khái niệm hệ quả về công bằng.

Đó là công bằng dọc và công bằng ngang. Công bằng đọc nghĩa là người đóng thuế có khả năng nộp thuế cao hơn phải đóng góp nhiều hơn. Khái niệm công bằng ngang cho rằng những người đóng thuế có cùng khả năng nộp thuế phải đóng góp như nhau. Mặc dù những khái niệm này về công bằng được chấp nhận rộng rãi, song việc áp dụng chúng để đánh giá hệ thống thuế thường không đơn giản.

Thuế tỷ lệ Thuế Inỹ thoái Thuế luỹ tiến

Thu ma SỐ th ưảm Séthué Phản Sốthuế — Phẩn

đồng) phải nộp ram phảnộp tramthu phaindp trăm thu (tr.dong) (tr.đồng) nhập (tr.đồng) nhập (tr.đồng) nhập

5 1,25 25 1,5 30 1,0 20

10 2,50 25 2,5 25 2,5 25

20 5,00 25 4,0 20 6,0 30

Bang 2.7. Ba hé thong thué. :

Công bằng dọc

Nếu thuế đánh theo khả năng nộp thuế, thì người giàu phải đóng thuế nhiều hơn người nghèo. Nhưng người giàu phải đồng nhiều hơn bao nhiêu? Vấn đề này gây ra nhiều tranh cãi khi thảo luận về chính sách thuế. /

Chúng ta hãy xem xét 3 hệ thống thuế trong bảng 12.7. Trong mỗi trường hợp, người đóng thuế có thu nhập cao hơn nộp nhiều thuế hơn. Song các hệ thống này khác nhau ở /j lệ tăng của mức thuế khi thu nhập tăng. Hệ - thống thứ nhất được gọi là zbưế rỷ lệ vì tất cả mọi người đóng thuế đều nộp một phần như nhau trong thu nhập. Hệ thống thứ hai được gọi là thuế luỹ thoái vì người đóng thuế có thu nhập cao nệp tỷ lệ thấp hơn trong thu nhập của họ, cho dù số tiền mà họ nộp nhiều hơn. Hệ thống thứ ba được gọi là thuế luỹ tiến, vì người đóng thuế có thu nhập cao hơn nộp một phần lớn hơn trong thu nhập của họ.

Hệ thống thuế nào trong 3 hệ thống trên công bằng nhất? Không có câu trả lời rõ ràng nào và lý thuyết kinh tế không giúp được gì trong việc tìm ra câu trả lời. Giống như sắc đẹp, sự công bằng nằm trong con mắt của người quan sát.

293

Một phần của tài liệu Bài giảng Nguyên lý kinh tế vi mô (Trang 286 - 289)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(556 trang)