Đặc điểm của tội phạm

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 75 - 82)

I. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM

3. Đặc điểm của tội phạm

Thế giới quan vật chất của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: “lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất”. C. Mác cũng từng viết: “ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó”.53 Trên cơ sở đó, Luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay đã thừa nhận “nguyên tắc hành vi”. Chỉ bằng hành vi, con người mới có thể phạm tội. Tức là, chỉ có thể thông qua hành vi, con người mới “gây ra hoặc đe doạ gây ra” những sự “nguy hiểm đáng kể” cho xã hội. Những ý nghĩ, tư tưởng của con người dù lệch lạc đến đâu thì cũng không phải là tội phạm nếu nó chưa được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của con người được biểu hiện ra ngoài thế giới khách quan đều là tội phạm.

Theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành, dựa trên khái niệm về tội phạm, hành vi bị xem là tội phạm phải có đủ bốn dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính

53 C.Mác – Ăngghen, Tòan tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978, tr.19.

72

có lỗi, tính chịu hình phạt. Những dấu hiệu này đồng thời cũng là những thuộc tính của tội phạm mà các hành vi khác không có được.

a. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm, bởi nó là thuộc tính và là nội dung của tội phạm.

Một hành vi sở dĩ bị quy định là tội phạm vì bản thân nó có “tính nguy hiểm”. Đây chính là điểm khác giữa Luật hình sự hiện hành với Luật hình sự của Việt Nam cộng hoà trước đây cũng như Luật hình sự một số nước trên thế giới, xem tính luật định là dấu hiệu quyết định.

Bộ luật hình sự Việt Nam cộng hoà 1972 xác định tính trái pháp luật là dấu hiệu cơ bản của tội phạm. Từ đó, các nhà lý luận Luật hình sự thời đó đã định nghĩa: tội phạm là một hành vi do luật hình dự liệu và trừng phạt.54 Điều 1 Bộ luật hình sự Thuỵ Điển quy định: “ tội phạm là hành vi bị xử phạt theo quy định của Bộ luật này hoặc các Bộ luật và các Đạo luật khác”.

Điều 40 Bộ luật hình sự Malaisia quy định: "tội phạm là một hành vi bị xử phạt theo Bộ luật này’’...v.v...

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe doạ gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Đây là các quan hệ xã hội gắn liền với lợi ích của Nhà nước, mọi công dân và toàn xã hội và khi bị xâm hại, có thể làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội. Những quan hệ xã hội đó được quy định rất cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. Theo nghĩa đầy đủ, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm còn bao hàm cả yếu tố chủ quan tức là lỗi. Tuy nhiên, để nhấn mạnh sự thừa nhận lỗi là một nguyên tắc cơ bản, Luật hình sự nước ta từ trước đến nay vẫn luôn xem lỗi là một dấu hiệu độc lập của tội phạm (sẽ đề cập ở bài sau).

Bất kỳ một hành vi vi phạm các chuẩn mực chung của xã hội nào cũng có tính nguy hiểm, có nghĩa là có khả năng gây ra hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, so với các hành vi vi phạm khác, tội phạm có tính nguy hiểm “đáng kể” hơn cả. Ví dụ, hành vi chửi mắng ông bà, cha mẹ… bị xem là hành vi vi phạm đạo đức. Hành vi này về bản chất cũng có tính nguy hiểm nhất định cho xã hội vì nó đã xâm phạm đến quan hệ tình cảm giữa những người thân trong gia đình. Tuy nhiên, hành vi này chưa phải là tội phạm vì mức độ nguy hiểm vẫn còn hạn chế, chưa “đáng kể”. Trong trường hợp hành vi chửi mắng này diễn ra một cách liên tục, kèm theo những hành vi đối xử tàn ác về vật chất, tinh thần đối với ông bà, cha mẹ…dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì hành vi đó bị coi là tội phạm. Bởi vì, trong trường hợp đó, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã “đáng kể”.

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một phạm trù lịch sử, hoàn toàn có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Nó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố không gian và thời gian nhất định. Ví dụ, hành vi săn bắt thú dữ (như cọp, beo, sư tử…) nếu diễn ra vào những năm của thập niên 50-60 của thế kỷ 19 được xem là hành vi tích cực, được ca tụng vì nó trừ hại cho dân. Tuy nhiên, hiện nay, hành vi này có tính nguy hiểm đáng kể vì nó gây mất cân bằng sinh thái trong điều kiện các loài thú hoang dã, quý hiếm đang trên bờ tuyệt chủng.

54 Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Ấn quán Phong Phú, Sài Gòn, 1973, tr.111.

73

Tính nguy hiểm cho xã hội có thể được con người nhận thức và nhận thức đúng. Do vậy khi khẳng định một hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm thì không có nghĩa đó là sự áp đặt một ý muốn chủ quan của con người mà đó chỉ là sự xác nhận một thực tế khách quan được nhận thức thông qua việc đánh giá tổng thể các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm của nhà làm luật. Các yếu tố này bao gồm:

* Tính chất và tầm quan trọng của khách thể (quan hệ xã hội) bị xâm hại:

Mỗi quan hệ xã hội đóng một vai trò nhất định trong việc duy trì và phát triển xã hội.

Hành vi nào xâm hại đến các quan hệ xã hội có vai trò càng quan trọng thì càng nguy hiểm và cần được Luật hình sự xử lý nghiêm khắc. Chẳng hạn, các tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia (khách thể là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ) rõ ràng nguy hiểm hơn các tội phạm xâm phạm sở hữu (khách thể là quyền sở hữu).

* Tính chất của hành vi khách quan:

Đây cũng là một yếu tố quan trọng quy định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

Thông qua diễn biến của hành vi phạm tội, chúng ta có thể biết được trạng thái tâm lý của kẻ phạm tội khi thực hiện hành vi. Phương thức thực hiện hành vi càng nguy hiểm, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, công cụ, phương tiện càng hiện đại thì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng cao.

* Tính chất và mức độ thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội:

Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại thực tế hay khả năng gây ra thiệt hại, có thể là thiệt hại vật chất (xác định bởi số lượng, trọng lượng, phần trăm...) hoặc phi vật chất (uy tín, danh dự, các lợi ích tinh thần khác...). Thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại càng lớn bao nhiêu thì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng cao bấy nhiêu.

* Tính chất và mức độ lỗi:

Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý. Lỗi cố ý do tính tích cực chủ động trong ý thức kẻ phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội nên tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cao. Lỗi vô ý xuất phát từ sự thụ động trong ý chí chủ quan của người phạm tội khi thực hiện hành vi nên tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có hạn chế. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều như vậy, bởi vì có những trường hợp dù phạm tội với lỗi vô ý nhưng thiệt hại thực tế xảy ra lớn gấp nhiều lần so với hậu quả của tội phạm với lỗi cố ý.

Nhìn chung, hành vi phạm tội với lỗi vô ý thường ít nguy hiểm nên Luật hình sự chỉ coi là tội phạm khi hậu quả thực tế xảy ra (cấu thành vật chất) ngoại trừ một số hành vi xâm hại đến các khách thể đặc biệt quan trọng. Chẳng hạn, tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật Nhà nước (Điều 264 Bộ luật hình sự), tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 328 Bộ luật hình sự)...v.v...

* Động cơ, mục đích phạm tội:

Động cơ, mục đích của kẻ phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Động cơ, mục đích càng đê hèn, xấu xa thì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng cao. Chẳng hạn, cũng là hành vi giết

74

người nhưng A vì mục đích đoạt vợ rõ ràng nguy hiểm hơn B do muốn trừ hại cho dân khi giết kẻ lưu manh.

* Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm:

Điều kiện khách quan hay chủ quan để thực hiện hành vi phạm tội càng dễ dàng thì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng cao. Bởi vì, trong những điều kiện ấy, thiệt hại sẽ dễ dàng đạt đến mức tối đa. Ví dụ, một người lợi dụng nhà bị hại vừa sau đám tang, mọi người đã mệt mỏi, ngủ say để trộm cắp tài sản sẽ có tính nguy hiểm cao hơn người trộm cắp tài sản trong trường hợp bình thường.

* Nhân thân người phạm tội:

Hành vi của con người luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chính vì vậy, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng phụ thuộc một phần vào các đặc tính xã hội của người thực hiện hành vi. Cùng một hành vi nhưng có thể ở người này là một biểu hiện nhất thời, đột xuất nhưng ở người kia lại là kết quả của một quá trình nhận thức và tính toán sâu sắc. Điều này có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi cũng như quyết tâm thực hiện tội phạm của người đó. Nhân thân càng xấu thì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do người đó thực hiện càng cao. Chẳng hạn, hành vi gây thương tích cho người khác của một kẻ thất học, không nghề nghiệp và sống sa đoạ sẽ nguy hiểm hơn hành vi gây thương tích cho người khác của một người con ngoan, học giỏi, nhất thời phạm tội. Vì vậy, phải xem xét, đánh giá đúng đắn yếu tố nhân thân khi xử lý thì việc áp dụng hình phạt mới đạt hiệu quả được.

* Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS:

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS là các tình tiết thuộc yếu tố khách quan hoặc chủ quan có tác dụng làm tăng hoặc giảm tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Đây là những tình tiết xuất phát từ chủ quan của người phạm tội (đa số xuất phát từ nhân thân) hoặc khách quan, ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Chẳng hạn, do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khách quan khiến A phải phạm tội. Điều này làm cho hành vi phạm tội của A giảm đi phần nào tính nguy hiểm cho xã hội.

b. Tính trái pháp luật hình sự

Khoản 2 Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc khẳng định: “không ai bị kết án về một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không quy định là tội phạm”. Vì vậy, tính trái pháp luật hình sự là một dấu hiệu được quy định trong Luật hình sự của tất cả các nước trên thế giới. Theo Luật hình sự Việt Nam, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi nó được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự nước ta thể hiện rất rõ điều này khi khẳng định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự...” (khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự), “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 2 Bộ luật hình sự)...v.v...

75

Tính trái pháp luật hình sự theo cách hiểu của Luật hình sự Việt Nam hiện hành là hành vi phạm tội trái với quy định của Bộ luật hình sự. Nghĩa là khi Bộ luật hình sự quy định một hành vi nào đó bị cấm thì người phạm tội thực hiện hành vi đó. Ngược lại, khi Bộ luật hình sự quy định hành vi đó phải được làm thì người phạm tội không làm hoặc làm không hết trách nhiệm và khả năng của mình. Ví dụ, tại Điều 102 Bộ luật hình sự quy định trách nhiệm cứu giúp người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Như vậy, một người chứng kiến người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà không có hành vi cứu giúp khi có khả năng và điều kiện cứu giúp bị xem là trái Bộ luật hình sự.

Quy định tính trái pháp luật hình sự là một dấu hiệu của tội phạm không những là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, đảm bảo quyền dân chủ của công dân không bị vi phạm bởi hành vi tuỳ tiện mà còn thúc đẩy các cơ quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung luật theo sát với sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Tính trái pháp luật hình sự tuy là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lý nhưng vẫn có tính độc lập tương đối và có ý nghĩa quan trọng. Nếu chỉ coi trọng dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thì sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiện trong xử lý hình sự.

Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985, ở nước ta, dấu hiệu này của tội phạm chưa được xem là bắt buộc. Trong những trường hợp đặc biệt, Nhà nước cho phép áp dụng

“nguyên tắc tương tự” trong xét xử - dùng các văn bản pháp luật hiện có về tội phạm để xét xử các hành vi tương tự chưa được quy định trong luật hình sự. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp bất đắc dĩ, tạm thời xuất phát từ điều kiện khách quan là Nhà nước dân chủ nhân dân mới ra đời, chính quyền nhân dân mới thành lập, đấu tranh giai cấp cực kỳ căng thẳng, pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội chưa ổn định...Việc làm này là hết sức cần thiết trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, những hành vi nguy hiểm xâm phạm độc lập, chủ quyền, chế độ Nhà nước. Hiện nay, luật hình sự nước ta đã bỏ “nguyên tắc tương tự”. Có như thế mới xây dựng được một xã hội công bằng, với nền pháp chế cao, một Nhà nước pháp quyền vững mạnh.

Tuy nhiên, việc quy định tuyệt đối tội phạm phải được quy định trong Bộ luật hình sự như Luật hình sự hiện hành của Việt Nam là khá cứng nhắc và không cần thiết. Xu thế chung của các quốc gia trên thế giới hiện nay là quy định tội phạm không những trong Bộ luật hình sự mà còn trong các đạo luật khác trong từng lĩnh vực đặc thù cụ thể, như: môi trường, giao thông, ngân hàng, công nghệ thông tin, buôn bán phụ nữ…Việc quy định các hành vi đặc thù trong các đạo luật chuyên ngành là phù hợp và cần thiết. Vì vậy, cụm từ “Bộ luật hình sự” trong trường hợp này nên thay bằng “Đạo luật hình sự” hoặc “Luật hình sự”.

Quy định như vậy thì tính trái pháp luật hình sự của tội phạm sẽ được hiểu là hành vi phạm tội phải trái với quy định của các Đạo luật hình sự.

Giữa hai dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và tính trái pháp luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ nhau. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thuộc tính khách quan, biểu hiện nội dung, bản chất chính trị, xã hội của tội phạm. Dấu hiệu này quyết định một hành vi có được quy định trong Bộ luật hình sự và bị coi là tội phạm hay không.

Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu biểu hiện hình thức pháp lý của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Tuy nhiên, dù một hành vi có tính nguy hiểm cao đến đâu nhưng chưa được quy định trong Luật hình sự thì cũng chưa thể bị coi là tội phạm.

76

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 75 - 82)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)