TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 156 - 159)

BÀI 10: CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM

V. TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI

1. Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Điều 19 Bộ luật hình sự quy định: “ Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”. Theo đó, chúng ta chỉ coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi có đủ các điều kiện sau:

- Việc chấm dứt hành vi phạm tội phải xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

Khi tội phạm đã ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì cũng có nghĩa là kẻ phạm tội đã thực hiện được hết những hành vi mong muốn và do vậy không thể có việc tự ý dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm. Tại thời điểm chưa đạt đã hoàn thành, hậu quả của tội phạm tuy chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra mà không cần có hành vi gì tiếp nữa (theo ý thức chủ quan của chủ thể). Do vậy, việc chủ thể dừng lại không thực hiện tiếp rõ ràng không ảnh hưởng gì đến việc hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra. Ví dụ, do A thù B nên A tiêm thuốc vào những con cá rô và mang đi mắc vào lưới của B để B mang về ăn mà chết. Tuy nhiên, khi B mang về ăn, phát hiện có mùi lạ nên đã ném cho chó ăn và chó chết. Sau khi biết chuyện, A đã đi tự thú. Trường hợp này, A không được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì trường hợp này là chưa đạt đã hoàn thành.

Một khi tội phạm đã hoàn thành thì cũng không thể có việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được vì khi đó hành vi phạm tội đã có đầy đủ những đặc điểm thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Việc dừng lại lúc này hoàn toàn không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã thực hiện. Chẳng hạn, H trộm chiếc xe gắn máy của N nhưng không bị phát hiện. Sau khi bán xe được 10 triệu, H đã hoàn lương và dùng tiền mua một chiếc xe đi bán kẹo kéo. Hai năm sau, công an đã điều tra ra H đã trộm cắp chiếc xe máy và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Việc chấm dứt hành vi phạm tội phải tự nguyện và dứt khoát. Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, trước hết đòi hỏi việc chủ thể dừng lại, không thực hiện tiếp tội phạm phải hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối. Khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện tiếp tội phạm. Việc dừng lại, không thực hiện tiếp tội phạm trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là sự thể hiện của việc từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải là thủ đoạn để tiếp tục thực hiện tội phạm.

Vẫn có trường hợp người phạm tội đang thực hiện tội phạm và có trở lực khách quan, nhưng trở lực đó không đủ để ngăn cản người phạm tội thực hiện tiếp tội phạm. Tuy nhiên, người phạm tội đã dừng lại hẳn hoặc chuyển sang một hành vi khác, có thể là hành vi phạm tội khác. Như vậy, tội phạm mà người phạm tội định phạm ban đầu cũng được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Ví dụ, M dùng vũ lực, đã khống chế được L, đè xuống đất và bị L chống cự. Khi đó, M đã nằm được lên mình của L, cởi được hai nút áo trên cổ của L và phát hiện sợi dây chuyền vàng. M nghĩ việc hiếp dâm có phần khó khăn nên đã bứt sợi dây chuyền và bỏ đi. Trong trường hợp này, tội hiếp dâm có thể được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội dù việc ngừng lại không thực hiện tiếp tục hành vi hiếp dâm có sự ngăn cản của nạn nhân, nhưng yếu tố quyết định cho hành vi này dừng lại là mang tính chủ

153

quan. Bởi vì, dù bị chống cự của nạn nhân, nhưng nếu M quyết tâm thì sự chống cự đó không đủ ngăn cản M hiếp dâm L.

2. Trách nhiệm hình sự của những người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Theo Điều 19 Bộ luật hình sự Việt Nam, “người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.

Ví dụ, một người dự định phạm tội giết người nhưng mới đâm gây thương tích cho nạn nhân đã tự nguyện dừng lại và không thực hiện tội phạm nữa. Khi đó, người này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng sẽ bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích.

Miễn trách nhiệm hình sự do đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thuộc thẩm quyền áp dụng của bất kỳ cơ quan tư pháp hình sự nào căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát hoặc Toà án). Đây là dạng miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan tư pháp hình sự khi có đủ cơ sở cho thấy người phạm tội đã thực sự “tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản ” và đây chính là căn cứ pháp lý duy nhất được quy định trong luật. Tuy nhiên, nhược điểm cần phải được khắc phục của luật hình sự Việt Nam là mới chỉ quy định việc áp dụng dạng miễn trách nhiệm hình sự này đối với một người đồng phạm - người thực hành (khi sử dụng thực ngữ “việc phạm tội”), mà chưa quy định cụ thể và rõ ràng việc áp dụng nó với ba loại người đồng phạm còn lại- người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức.

Dạng miễn trách nhiệm hình sự này chỉ tồn tại trong trường hợp tội phạm đã thực hiện ở hai giai đoạn đầu của hoạt động phạm tội sơ bộ - chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, đồng thời cũng không phụ thuộc đó là loại tội phạm nào.

Do pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành không hề quy định một căn cứ pháp lý nào bắt buộc các cơ quan tư pháp hình sự phải hạn chế phạm vi áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nên dạng miễn trách nhiệm hình sự này có thể được áp dụng đối với tất cả những trường hợp tội phạm chưa đạt. Có nhận thức thống nhất và đúng đắn như vậy thì mới có thể thấy rõ bản chất nhân đạo của chế định này và góp phần thực hiện có hiệu quả chức năng ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm.

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ miễn trách nhiệm hình sự nhưng không phải là không có sự việc phạm tội, miễn tức là có trách nhiệm hình sự nhưng Nhà nước miễn trách nhiệm hình sự. Về ý nghĩa xã hội miễn trách nhiệm hình sự cũng giống như loại trừ trách nhiệm hình sự (không còn trách nhiệm hình sự) nhưng về mặt pháp lý họ vẫn có thể bị xử lý bằng biện pháp khác.

Do đó miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này thực chất là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội họ định phạm còn hành vi của họ trên thực tế cấu thành tội gì thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ấy. Nếu hành vi của họ không cấu thành tội nào được quy định trong Bộ luật hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự và trong trường hợp này thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được coi là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

154

CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ

1. Nêu khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm?

2. Chuẩn bị phạm tội là gì?

3. Phạm tội chưa đạt là gì?

4. Tội phạm hoàn thành là gì?

5. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là gì?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1991.

2. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần chung), Nxb TPHCM, TPHCM, 2000.

3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.

4. Viện Luật học, Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986.

5. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.

155

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 156 - 159)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)