NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÁC ĐƯỢC LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 196 - 201)

BÀI 12: NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI 178 I. KHÁI NIỆM VỀ NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI

III. NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÁC ĐƯỢC LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Khoa học Luật hình sự Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới đề cập và có những quan điểm khác nhau về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự. Ngoài ba trường hợp luật định là phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và bắt người phạm pháp. Lý luận Luật hình sự còn đưa ra các trường hợp khác cũng được xem là loại trừ trách nhiệm hình sự như thi hành lệnh cấp trên, thực hiện chức năng nghề nghiệp, thực hiện theo yêu cầu của người bị hại, rủi ro trong sản xuất... Trong khuôn khổ những quan điểm về lý luận, chúng tôi muốn nêu lên một số trường hợp phổ biến mà trong thực tiễn xét xử đã công nhận là được loại trừ trách nhiệm hình sự. Nên nhớ rằng, các tình tiết này chưa được chính thức thừa nhận trong Bộ luật hình sự mà chỉ được thực tiễn xét xử xem xét áp dụng. Trên thế giới, có thể có một số quốc gia thừa nhận những trường hợp này trong luật, ở những quốc gia khác thì chưa ghi nhận mà chỉ tồn tại trong lý luận và thực tiễn.

1. Thi hành lệnh cấp trên

Vấn đề này chưa được chính thức quy định trong Luật nên tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau, liệu việc thi hành mệnh lệnh trái pháp luật có được loại trừ trách nhiệm hình sự hay không. Trên cơ sở đó, nhiều bị cáo đã dựa vào đây để thoát tội. Ví dụ, trong vụ án Vũ Xuân Trường và đồng bọn, Vũ Xuân Trường, Vũ Bản, Lê Văn Quân với hành vi “làm sai lệch hồ sơ vụ án” (Điều 300 Bộ luật hình sự), bỏ sót tội phạm (Điều 294 Bộ luật hình sự) (đối với Siêng Nhông) một số người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã viện lý lẽ “làm theo chỉ đạo” để phạm tội, các luật sư cũng hoạ theo lý lẽ đó. Vì vậy, về lý luận, chúng ta cần làm rõ vấn đề này.

Trong quản lý Nhà nước, quan hệ mệnh lệnh – phục tùng là quan hệ đặc thù, đòi hỏi phải được tuân thủ nghiêm túc. Vì vậy, thi hành mệnh lệnh cấp trên là một yêu cầu bắt buộc đối với cấp dưới. Trong khi người ra mệnh lệnh không phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại cho xã hội thì chính người thi hành mệnh lệnh – người bị bắt buộc phải tuân thủ mệnh lệnh lại là người gây ra thiệt hại cho xã hội. Tuy nhiên, với tính cách là một cá nhân có ý thức của xã hội, người thi hành mệnh lệnh có thể nhận thức được hành vi thi hành mệnh lệnh của mình là đúng hay sai so với các quy định của pháp luật. Vì thế, trong những trường hợp cụ thể, lý luận cũng như thực tiễn đặt ra khi người thi hành mệnh lệnh có lỗi thì trách nhiệm hình sự có thể được đặt ra.

193

Mệnh lệnh được đề cập ở đây bao gồm tất cả các quyết định, chỉ thị, bản án, thậm chí là khẩu lệnh trong quân đội hay bất kỳ nội dung nào của cấp trên được đưa ra mà theo pháp luật buộc cấp dưới phải tuân thủ. Với tính chất bắt buộc của quan hệ mệnh lệnh – phục tùng, đối với những mệnh lệnh hợp pháp thì dù việc thi hành mệnh lệnh gây ra thiệt hại cho xã hội cũng không đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự vì đó là hành vi hợp pháp. Mệnh lệnh hợp pháp nghĩa là mệnh lệnh được đưa ra bởi chủ thể mà theo pháp luật là có thẩm quyền đưa ra mệnh lệnh đó, đồng thời, mệnh lệnh đó phải tuân thủ đúng pháp luật về nội dung, hình thức.

Chẳng hạn, Đội trưởng đội chống buôn lậu ra mệnh lệnh: “Khi gặp người buôn lậu, đã hô đứng lại, bắn chỉ thiên...vẫn chạy, có quyền bắn gãy chân...”. Đây là mệnh lệnh đúng pháp luật về các trường hợp được phép nổ súng của những người được giao vũ khí trong khi thi hành công vụ theo Nghị định số 94/HĐBT (02/7/1984). Nếu gặp trường hợp như thế, nhân viên chống buôn lậu có gây hậu quả gãy chân thì được xem là hợp pháp.

Tuy nhiên, nếu mệnh lệnh là hợp pháp nhưng khi thi hành, người thi hành đã có hành vi vượt quá nội dung mệnh lệnh thì tuỳ trường hợp, nếu hành vi vượt quá đã cấu thành tội phạm, người thi hành phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết “thi hành công vụ” (làm chết người/cố ý gây thương tích cho người khác trong khi thi hành công vụ, lạm quyền trong khi thi hành công vụ…). Chẳng hạn, trong ví dụ trên, nếu nhân viên chống buôn lậu sau khi đã hô đứng lại, bắn chỉ thiên nhưng người buôn lậu vẫn không đứng đã không bắn gãy chân mà bắn vào lưng người buôn lậu đang chạy. Hành vi này được xem là hành vi thi hành mệnh lệnh vượt quá so với nội dung mệnh lệnh.

Ngay cả một mệnh lệnh không hợp pháp thì việc thi hành mệnh lệnh cũng có những trường hợp, người thi hành mệnh lệnh được loại trừ trách nhiệm hình sự. Mệnh không hợp pháp là mệnh lệnh vi phạm một trong các điều kiện để trở thành mệnh lệnh hợp pháp. Có thể xem xét các trường hợp sau:

- Mệnh lệnh là không hợp pháp nhưng người chấp hành không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước mệnh lệnh là trái pháp luật thì việc chấp hành mệnh lệnh, gây thiệt hại sẽ không bị coi là có lỗi và không có trách nhịêm hình sự. Ví dụ, quyết định bắt người để tạm giam đòi hỏi có chữ ký phê chuẩn của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, Thủ trưởng đã giả chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát. Người thi hành quyết định này không thể biết được đây là mệnh lệnh trái pháp luật.

- Mệnh lệnh là không hợp pháp mà người chấp hành biết được hoặc buộc phải biết được đó là trái pháp luật, tuy nhiên do mối quan hệ lệ thuộc họ buộc phải chấp hành và không thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ, một y tá bốc thuốc theo đơn thuốc của Bác sĩ, thấy có tên thuốc lạ ghi trong toa nhưng không tin mình đúng và không nghĩ rằng sẽ có hậu quả xảy ra từ việc làm đó. Khi đó, nếu hậu quả có xảy ra thì Bác sĩ phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Mệnh lệnh là không hợp pháp mà người chấp hành nhận thức được chỉ thị là trái pháp luật, nhận thức được hậu quả sẽ xảy ra thì có hai trường hợp:

+ Nếu người thi hành mệnh lệnh có phản ánh việc đó với người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn giữ ý chí thì khi có thiệt hại xảy ra, người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự riêng mình.

194

+ Nếu người thi hành không phản ánh mà vẫn thi hành thì phải cùng với người ra mệnh lệnh chịu trách nhiệm hình sự (quan hệ giữa người thực hành và người tổ chức trong đồng phạm). Ví dụ, Giám đốc ngân hàng quyết định cho cán bộ tín dụng làm thủ tục cho anh A vay mà không cần thế chấp. Khi thiệt hại xảy ra...cả hai cùng chịu trách nhiệm hình sự.

Nhìn chung, vấn đề thi hành lệnh cấp trên và trách nhiệm hình sự trong khi thi hành lệnh cấp trên vẫn còn là vấn đề bàn cãi ở Việt Nam. Trong lý luận, vấn đề này đã được công nhận và nghiên cứu nhưng Luật hiện hành chưa có quy định, kể cả Bộ luật hình sự mới (năm 1999) vẫn chưa có chế định này.

2. Thực hiện chức năng nghề nghiệp

Luật hình sự Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nhưng thực tiễn cũng đã công nhận. Trách nhiệm hình sự của người gây ra thiệt hại do thực hiện chức năng nghề nghiệp không được đặt ra. Xét về mặt chuyên môn và xã hội, việc gây ra thiệt hại trong trường hợp này là tích cực, phù hợp với yêu cầu của xã hội và của chính người bị gây thiệt hại. Ví dụ, thầy thuốc được yêu cầu gây đau đớn cho bệnh nhân để cứu họ thoát chết hoặc phải thực hiện những ca mổ mà khả năng bảo vệ mạng sống là chưa xác định nhưng nếu không thực hiện thì bệnh nhân chắc chắn sẽ chết.

Ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, pháp luật của họ còn cho phép một thầy thuốc có thể theo yêu cầu của bệnh nhân mắc bệnh nan y, giúp bệnh nhân này chết một cách nhẹ nhàng nếu được người thân của họ đồng ý (euthanasia). Tuy nhiên, quy định này đã bị lên án vì cho rằng làm như thế là vô nhân đạo dù đó là hành vi mang tính nhân đạo. Thực tiễn hình sự Việt Nam chưa xem xét vấn đề này.

3. Rủi ro trong sản xuất và nghiên cứu khoa học

Trong sản xuất và nghiên cứu khoa học là các lĩnh vực luôn ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, đa số sẽ mang lại kết quả tốt, có ích cho xã hội nhưng cũng không thể tránh khỏi những rủi ro nhất định mà không ai là người thực hiện mong muốn. Pháp luật hình sự Việt Nam cũng chưa có quy định thừa nhận trường hợp gây thiệt hại này nhưng thực tiễn đã thừa nhận và không đề cập trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi gây thiệt hại do rủi ro trong sản xuất và nghiên cứu khoa học. Sự thừa nhận này là hợp lý. Không ai trong sản xuất hay nghiên cứu khoa học mà muốn công việc của mình gặp những sự cố dẫn đến thiệt hại.

Để làm rõ nội dung này, lý luận Luật hình sự Việt Nam đưa ra các điều kiện để có thể được xem là gây thiệt hại cho xã hội do rủi ro:

- Sự rủi ro được loại trừ trách nhiệm hình sự phải liên quan đến lĩnh vực sản xuất hoặc nghiên cứu khoa học. Ví dụ sau đây không được xem là rủi ro được loại trừ trách

195

nhiệm sự, A có tài phi đao bách phát bách trúng, nhìn thấy tận mắt, B tình nguyện làm bia.

Không may, A ném đao không chính xác, trúng vào mắt B.

- Sự rủi ro được loại trừ trách nhiệm hình sự khi mục đích là mang lại lợi ích cho xã hội, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo vệ tính mạng sức khoẻ người khác...Ví dụ, Giám đốc, vì muốn thực hiện được hợp đồng với phía nước ngoài mà trong hợp đồng đó sẽ mang lợi cho riêng cá nhân ông ta, đã thay đổi quy trình sản xuất...gây hậu quả nghiêm trọng. Trong trường hợp đó, Giám đốc không được miễn trách nhiệm hình sự.

- Hành vi ứng dụng các giải pháp khoa học kỹ thuật phải dựa vào thực tiễn và kiến thức khoa học được mọi người thừa nhận. Nếu không, việc gây thiệt hại sẽ không được loại trừ trách nhiệm hình sự. Ví dụ, một Bác sĩ mới ra trường do quá chủ quan, thực hiện ca mổ mà theo các bác sĩ nhiều kinh nghiệm thì không cần phải làm thế. Việc mạo hiểm đó đã gây hậu quả chết người.

- Sự rủi ro được loại trừ trách nhiệm hình sự khi đã áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn hậu quả xảy ra. Ví dụ, hầm tôm của hợp tác xã bị lũ tràn vào mà không có các biện pháp be bờ, rào lưới...để tôm ra hết trong khi có thể làm được việc đó thì không thể được xem là không có lỗi.

CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ

1. Nêu khái niệm các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi?

2. Phân tích những vấn đề liên quan đến phòng vệ chính đáng?

3. Phân tích những vấn đề liên quan đến tình thế cấp thiết?

4. Phân tích những vấn đề liên quan đến bắt người phạm pháp?

5. Phân tích những vấn đề liên quan đến thi hành mệnh lệnh?

6. Phân tích những vấn đề liên quan đến thực hiện chức năng nghề nghiệp và rủi ro?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Văn Doãn, Vấn đề phòng vệ chính đáng, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1993.

2. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1991.

3. Nguyễn Ngọc Hoà, Mô tả Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb Công an nhân dân 1991.

196

4. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần chung), Nxb TPHCM, TPHCM, 2000.

5. Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Ấn quán Phong Phú, Sài Gòn, 1973.

6. Ted Truscott, Canadian Law: Self-defence and The Martial Artist (tiếng Anh), Canada, 1995.

7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.

8. Viện Luật học, Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986.

9. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, Nhà in Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 2002.

10. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.

197

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 196 - 201)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)