Dựa vào bản chất của hành vi mà từng cá nhân thực hiện thể hiện vai trò của họ trong đồng phạm, Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành đã phân thành bốn loại người đồng phạm.
Khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự đã thể hiện rất cụ thể vấn đề này.
1. Người thực hành
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Tức là, bằng hành vi của mình, người thực hành thực hiện những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Có hai loại người được xem là người thực hành:
162
- Người thực hành có thể tự mình thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Trong trường hợp này, có thể chỉ một người nhưng cũng có thể nhiều người thực hành. Nếu nhiều người cùng tham gia với vai trò người thực hành thì không cần mỗi người phải thực hiện đầy đủ các yếu tố của cấu thành tội phạm mà chỉ cần tổng hợp hành vi của những người thực hành này thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Chẳng hạn, để giết chết một người, ba người thực hành có thể dùng vũ lực mà tổng hợp lại sẽ gây chết người khác. Nếu tách hành vi của từng người, có thể không gây ra được cái chết. Cũng có thể, trong số họ, có một người dùng một đòn chí mạng, những người khác chỉ với vai trò dùng vũ lực hỗ trợ, nhưng tất cả đều có tác động đến người bị hại.
- Cũng được xem là người thực hành trong trường hợp một người tuy không tự mình trực tiếp thực hiện những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng đã sử dụng người khác như một công cụ, phương tiện để thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành phạm tội thì cũng bị coi là người thực hành. Trong trường hợp này, có thể xảy ra các dạng sau:
+ Sử dụng người không có năng lực trách nhiệm hình sự để người này trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Chẳng hạn, A biết được B mắc bệnh tâm thần với đặc điểm luôn muốn đốt nhà người khác. A đã dẫn B đến nhà C (mà A muốn đốt vì ghét C), cung cấp cho B bật lửa để B đốt nhà C. Người bị sử dụng để phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Lợi dụng sai lầm của người khác để gây ra hậu quả của tội phạm mà người gây ra hậu quả không có lỗi hoặc có lỗi vô ý. Chẳng hạn, M biết N hay dùng súng đùa giỡn với bạn mình là P. M đã lén để đạn vào súng của N, lên đạn (trước đó N đã lấy hết đạn ra, kiểm tra cẩn thận). Khi N đưa súng vào P, bảo giơ tay lên và bóp cò. Thông thường, khi bóp cò, súng chỉ kêu tiếng “cách” gây giật mình vì không có đạn. Tuy nhiên, do hôm nay có đạn nên súng nổ đã giết chết P. Trong trường hợp này, M bị xem là người thực hành tội giết người (Điều 93), N bị xem là phạm tội vô ý làm chết người (Điều 98).
+ Sử dụng người khác bằng cách cưỡng bức, uy hiếp về tính mạng, sức khoẻ hoặc tinh thần để người đó gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Trong trường hợp này, người bị uy hiếp, tuỳ theo mức độ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Ví dụ, S viết sẵn đơn tố cáo H phạm tội và cưỡng bức L điểm chỉ vào đơn tố cáo để gửi đến cơ quan công an. S bị xem là người thực hành tội vu khống (Điều 122). L do bị cưỡng bức, thực hiện hành vi không phù hợp với ý chí của mình mà không có sự chọn lựa nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
+ Sử dụng người dưới quyền mình bằng cách ra mệnh lệnh trái pháp luật mà người thi hành không biết được tính trái pháp luật của mệnh lệnh, dẫn đến người này thi hành mệnh lệnh, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Khi đó, người ra mệnh lệnh bị coi là người thực hành, người thi hành không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với những tội phạm mà dấu hiệu khách quan đòi hỏi phải chính người thực hành mới có thể thực hiện tội phạm như tội hiếp dâm (Điều 111), tội loạn luân (Điều 150), tội đào ngũ (Điều 325)…thì người thực hành không thể có dạng thứ hai.
163
Về mặt lý luận, khi xem xét một số tội phạm đòi hỏi chủ thể đặc biệt, nhiều toà án bị lúng túng, như tội hiếp dâm, tội tham ô...Theo đúng nguyên tắc, kẻ xúi giục người không phải chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi phạm tội (không đủ điều kiện của chủ thể đặc biệt) thì không thể xem là người thực hành. Thế thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự họ với tư cách là người xúi giục. Điều này rõ ràng là trái với tinh thần của Điều 20 quy định khái niệm đồng phạm vì không thể có trường hợp đồng phạm mà không có người thực hành. Đây chính là chỗ khuyết mà Luật hình sự hiện hành chưa khắc phục được. Về điểm này, có quan điểm cho rằng phải chấp nhận xem người xúi giục người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi phạm tội là người xúi giục, mà không có người thực hành.84 Cũng có quan điểm cho rằng, không có người thực hành thì không có người xúi giục. Trong quyển “Cá thể hoá hình phạt trong Luật hình Xô viết”, Karpetx đã viết: “không có kẻ thực hành thì không có tội phạm, và như vậy thì không có cả hình phạt đối với kẻ cộng phạm”.85
Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự, chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận một ngoại lệ. Tức là, dù họ không đủ các đặc điểm của chủ thể đặc biệt song họ vẫn bị xem là người thực hành thực hiện một tội phạm riêng lẻ. Có như thế chúng ta mới có đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với loại người này.
Người thực hành giữ vai trò quan trọng trong vụ án đồng phạm như định tội, lượng hình, xác định giai đoạn phạm tội...Nói các khác, người thực hành và hành vi của họ quyết định tính nguy hiểm cho xã hội của vụ án đồng phạm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều như vậy. Trong một số trường hợp, người xúi giục hoặc người giúp sức lại nguy hiểm hơn người thực hành. Ví dụ, Trần Văn N vốn là một thanh niên lao động, hiền lành. Hồ Tấn L là một người trộm cắp chuyên nghiệp, có nhiều tiền án. L đã rủ N đi chơi nhiều lần và lần nào cũng trả mọi chi phí cho cả hai. Dần dần xem ra đã thân, L đã gợi ý để có tiền ăn tiêu cần phải thực hiện hành vi trộm cắp. N vốn rất lạ về chuyện này nên khi nghe thế, N từ chối ngay. L không chịu thua, thuyết phục bằng mọi cách và chỉ cho N những hành vi trộm cắp tinh vi của mình. N cảm thấy trộm cắp là một cách kiếm tiền rất dễ và thực hiện hành vi phạm tội nhưng do quá vụng về nên chủ nhà đã phát hiện bắt được. Xét về mặt nhân thân lẫn hành vi thì rõ ràng L nguy hiểm cho xã hội hơn N.
2. Người tổ chức
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
- Người chủ mưu là người chủ động gây ra tội phạm, gợi ra những âm mưu, phương hướng hoạt động phạm tội. Người chủ mưu có thể trực tiếp cầm đầu, điều khiển hoạt động phạm tội hoặc chỉ đứng ngoài để theo dõi hoạt động phạm tội. Ví dụ, muốn có tiền tiêu xài nên A đã rủ các bạn của mình về cướp nhà mình. Đây là ý tưởng do A nêu ra vì không ai khác hơn A hiểu rõ gia đình, cha mẹ mình. Sau khi sắp xếp mọi việc, A không tham gia cướp mà để các bạn mình tiến hành. A bị xem là người chủ mưu trong vụ phạm tội này.
- Người cầm đầu là người đứng ra thành lập các băng, nhóm phạm tội hoặc tham gia soạn thảo kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn cũng như đôn đốc, điều khiển hoạt động của tổ chức. Họ cũng có thể là người đề xướng việc thành lập nhóm hoặc thực hiện lời đề xướng đó để rủ rê, lôi kéo các đồng phạm khác vào nhóm, lập mối quan hệ
84 Trường Đại học luật Hà nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.61.
85 Karpetx, Cá thể hoá hình phạt trong Luật hình Xô viết, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963, tr.92.
164
giữa những đồng phạm trong tổ chức đó. Chẳng hạn, thấy việc đâm thuê, chém mướn dễ kiếm tiền, G đã rủ ba người bạn (cùng học võ cổ truyền chung) thành lập nhóm đâm thuê, chém mướn do G đứng đầu, chịu trách nhiệm nhận “giao dịch” và cùng vạch phương hướng hoạt động trong từng vụ cụ thể. Khi phạm tội, G bị xem là người cầm đầu của nhóm này.
- Người chỉ huy là người trực tiếp điều khiển tổ chức phạm tội. Người điều khiển có thể là người giữ vai trò điều khiển hoạt động chung của toàn nhóm như vạch ra phương hướng hoạt động, kế hoạch thực hiện, phân công vai trò, nhiệm vụ cho những người đồng phạm. Họ cũng có thể là người giữ vai trò điều khiển việc thực hiện một vụ phạm tội cụ thể của nhóm đồng phạm. Ví dụ, trở lại vụ án cướp tài sản gia đình A do chính A nghĩ ra. Vì A là người hiểu biết về gia đình mình nhiều nhất nên A được bầu làm người chỉ đạo, phân công các bạn mình từng công việc cụ thể trong việc thực hiện hành vi cướp tài sản của nhà mình.
Như vậy, trong vụ phạm tội này, A vừa là người chủ mưu, vừa là người chỉ huy.
Người tổ chức có thể đảm nhận đồng thời cả ba vai trò trên, nhưng cũng có thể chỉ đảm nhận một trong ba vai trò. Trong đa số trường hợp, vai trò của người tổ chức được xác định là nguy hiểm hơn cả trong số những người đồng phạm. Chính vì thế, Điều 3 Bộ luật hình sự đã xác định nguyên tắc xử lý đối với loại người này là: Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy. Dĩ nhiên, cũng có một vài trường hợp, người tổ chức được xem là không nguy hiểm bằng người thực hành.
3. Người xúi giục
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
- Kích động là dùng hành vi (cử chỉ, lời nói, chữ viết…) tác động đến tâm lý người khác khiến cho người khác bị căng thẳng, bức xúc mà phạm tội. Chẳng hạn, do thù ghét B nên C thường xuyên nói với S rằng B thường xuyên chửi S, nói xấu S, hâm doạ nếu gặp S sẽ đánh ngay, thậm chí có thể “cướp” người yêu của S…với ý muốn là S hãy đánh B. Nghe C nói nhiều chuyện về B, S phát giận và tìm đánh B gây thương tích.
- Dụ dỗ là bằng hành vi hoặc thông qua các lợi ích vật chất, tinh thần cụ thể làm cho người khác thấy mình được thoả mãn mà thực hiện hành vi phạm tội. Chẳng hạn, chị V có chồng tên R là người đã gây thương tích cho người khác và bị cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố. Vì thương chồng nên chị V đã tìm đến D là người đang phụ trách điều tra vụ án của R. Chị V đã đề nghị D sửa hồ sơ để làm cho chồng chị không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và hứa sẽ ngủ lại với anh một đêm. Thấy chị V quá hấp dẫn, D không kiềm chế được và đồng ý. Chị V đã thực hiện lời hứa, ngủ lại với D một đêm. Kết quả, D đã sửa hồ sơ, xác định R không phạm tội mà thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng và đề nghị đình chỉ vụ án.
Tuy nhiên, bên bị hại đã khiếu nại và vụ án được phục hồi điều tra bởi người khác, kết luận R phạm tội cố ý gây thương tích (khoản 2, Điều 104). D bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294) với vai trò thực hành, V với vai trò xúi giục (dụ dỗ).
- Thúc đẩy là bằng hành vi của mình làm cho người vốn đã có ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện để cho ý định phạm tội đó biến thành hiện thực. Thúc đẩy khác với kích 165
động, dụ dỗ vì trường hợp này, người thực hành đã có ý định phạm tội rồi, trong khi trong trường hợp kích động, dụ dỗ, ý định phạm tội chưa xuất hiện trong đầu người thực hành.
Tuy nhiên, cả ba trường hợp đều giống nhau ở chỗ là nếu không có chúng thì tội phạm không diễn ra trên thực tế. Có thể đưa ra một một ví dụ về trường hợp này như sau:
Nguyễn Văn Trường là người làm công của nhà chị Nguyễn Thị Bình. Do Trường không có nhà ở nên chị Bình cho Trường ở nhà của mình để trông nôm nhà cửa khi chị đi vắng. Thấy nhà chị Bình có tiền, nhân một lần chị Bình để quên chìa khoá két sắt ở nhà, Trường đã tranh thủ đánh thêm một chìa để dành nhưng chưa lấy tiền.
Cuối năm 2003, Trường có gặp Hoàng Thị Tình, làm nghề uốn tóc, cùng quê với Trường. Hai người yêu nhau và dự định đầu năm 2004 Trường sẽ về quê để cưới Tình.
Trường có nói với Tình về chiếc chìa khoá nhà chị Bình. Đầu tháng 3/2004, Tình nói Tình cần ít tiền để chuẩn bị cưới. Trường đã mở két sắt lấy 10 triệu đồng đưa cho Tình. Mấy hôm sau, Tình dẫn Trường đi xem một căn nhà ở ngõ H và bảo người ta cần bán gấp với giá 290 triệu đồng và nói Tình đã dùng 10 triệu đồng mà Trường đưa để đặt cọc mua nhà rồi.
Trường đã về nhà mở két sắt lấy 30 tờ trái phiếu (10 triệu đồng/tờ) và 50 triệu đồng để đưa cho Tình trả nốt tiền căn nhà và sắm sửa đồ đạc.
Ngày 14/3/2004, chị Bình phát hiện mất tài sản đã đến trụ sở công an để trình báo sự việc và được công an điều tra làm rõ. Trường hợp này, Trường phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 138) với vai trò người thực hành, Tình phạm tội này với vai trò người xúi giục – thúc đẩy.
Có thể nói, xúi giục được thể hiện ở chỗ tác động đến tư tưởng và ý chí người khác, khiến người này phạm tội. Có thể họ trực tiếp tác động hoặc thông qua người khác. Hành vi tác động có thể chỉ thúc đẩy thêm ý định phạm tội vốn có trong ý chí của người thực hành hay là tác giả tạo ra ý định phạm tội ở người thực hành. Dù sao đi nữa cũng cần phải xác định rằng, nếu không có hành vi xúi giục thì không có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, như thế mới xem là hành vi xúi giục. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi xúi giục là ở chỗ đó. Nếu một người bằng mọi cố gắng thuyết phục người khác phạm tội nhưng cuối cùng người bị thuyết phục vẫn không phạm tội thì không có đồng phạm xảy ra. Hành vi xúi giục phải nhằm vào một đối tượng cụ thể và nhằm gây ra việc thực hiện tội phạm nhất định. Vì thế, việc hô hào, kêu gọi hướng tới một số người không xác định cũng như không nhằm vào việc thực hiện một tội phạm cụ thể nào cả thì không bị xem là đồng phạm với vai trò xúi giục. Tuy nhiên, hành vi đó trong những trường hợp cụ thể có thể cấu thành một tội phạm độc lập khác (Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp - Điều 252 Bộ luật hình sự).
Xét về mặt chủ quan, người xúi giục phải có ý định rõ ràng là thúc đẩy người khác phạm tội. Vì vậy khi một người có hành vi tác động làm ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm song về chủ quan, người tác động không mong muốn có sự việc phạm tội xảy ra thì không là đồng phạm với vai trò xúi giục. Ví dụ, Trần Văn T là người thích xem phim điều tra. Một hôm, T xem xong một bộ phim rất hay trong đó thể hiện những tinh vi của kẻ trộm và sự thông minh, khéo léo của các điều tra viên và kể cho P nghe. Những thủ thuật của kẻ trộm trong bộ phim đó được Huỳnh Văn P (bạn thân của T) ghi nhớ. P nuôi ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự và một hôm, P đã thực hiện. Khi bị bắt, P khai rõ sự việc và bảo 166
mình phạm tội vì được nghe T kể về bộ phim đó. Nhưng cơ quan Điều tra đã không khởi tố T vì cho rằng T không là người xúi giục, do đó không có đồng phạm xảy ra.
Tóm lại, để có sự đồng phạm bằng hành vi xúi giục, phải đảm bảo các dấu hiệu sau:
- Chủ thể bị xúi giục phải được xác định (xúi giục những người nào);
- Đối tượng xúi giục cũng phải được xác định (xúi giục thực hiện tội phạm cụ thể nào);
- Sự xúi giục phải được thống nhất trong nhận thức của người xúi giục và người bị xúi giục;
- Có tội phạm xảy ra (người bị xúi giục phải thực hiện tội phạm);
- Tội phạm được thực hiện phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi xúi giục.
4. Người giúp sức
Người giúp sức là người tạo ra những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Hành vi của người giúp sức thể hiện ở hành vi tạo điều kiện vật chất và tinh thần, tựu chung là để tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm. Nói về việc tạo điều kiện vật chất có thể là cung cấp công cụ, phương tiện phạm tội, tạo điều kiện về tinh thần có thể là góp ý, chỉ dẫn thủ đoạn thực hiện tội phạm. Hành vi giúp sức có thể thông qua hành động hoặc không hành động. Trường hợp không hành động xảy ra khi một người có nghĩa vụ theo luật định phải hành động nhưng đã không hành động và do đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm.
Cũng bị xem là người giúp sức trong trường hợp một người hứa hẹn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện phạm tội, sau khi thực hiện tội phạm. Ví dụ, hứa hẹn che giấu tội phạm và người phạm tội, tiêu thụ tài sản sau khi phạm tội…Việc hứa hẹn này đòi hỏi phải diễn ra trước khi tội phạm diễn ra hoặc tội phạm chưa kết thúc. Nếu việc hứa hẹn khi tội phạm chưa diễn ra thì nó chỉ là điều kiện để củng cố thêm quyết tâm phạm tội đã có sẵn trong ý chí của người thực hành chứ không có ý nghĩa tạo ra ý định phạm tội hoặc thúc đẩy việc thực hiện tội phạm. Đây chính là điểm để phân biệt giữa người giúp sức với người xúi giục và không phải lúc nào cũng dễ xác định. Hành vi hứa hẹn không cần phải được thực hiện. Ví dụ, Nguyễn Phước H, Trần Văn L và Lê ngọc K đã bàn bạc với nhau đi cướp tiệm vàng Kim T. Bọn chúng đang lo lắng không biết sẽ ẩn náo ở đâu nếu có sự cố bất trắc trong quá trình phạm tội. Bọn chúng kể chuyện này với Trần Văn M (anh ruột của L). M hứa sẽ dành riêng một chỗ nấp rất an toàn cho chúng nếu cần. Bọn chúng an tâm thực hiện ý định và cuối cùng trót lọt nên bọn chúng không cần ghé vào nhà M vì cho rằng mọi chuyện đã ổn cả. Hai ngày sau đó, bọn chúng bị bắt và M cũng bị bắt trong vụ cướp này với vai trò giúp sức.
Theo lý luận về đồng phạm, trong trường hợp một người hứa hẹn giúp sức cho một tội phạm nhưng kẻ thực hành lại thực hiện một tội phạm khác, không nằm trong ý thức của 167