TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 201 - 204)

I. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Trong khoa học pháp lý, vấn đề trách nhiệm hình sự là một vấn đề khá phức tạp và dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về nó. Thực tế này được biểu hiện trước hết qua định nghĩa về trách nhiệm hình sự. Có thể điểm qua một số quan điểm sau:

- Trách nhiệm hình sự là một giai đoạn nhất định của việc thực hiện các quyền và các nghĩa vụ bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự khi mà người phạm tội bị cưỡng chế đối với việc phải chịu những tước bỏ nhất định.98

- Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của người phạm tội phải chịu hình phạt và được thể hiện trong việc tước bỏ có tính chất cá nhân hoặc tính chất tài sản đối với người đó vì tội phạm đã thực hiện.99

- Trách nhiệm hình sự là sự thực hiện có tính chất cưỡng chế những sự tước bỏ nhất định được các cơ quan đấu tranh chống tội phạm nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm.100

- Trách nhiệm hình sự là hậu quả bất lợi do luật quy định đối với người phạm tội được tuyên bằng bản án của Toà án đối với người phạm tội, được thể hiện chính trong việc kết án hoặc kết án có kèm theo hình phạt và án tích.101

Trong khoa học Luật hình sự Việt Nam, quan niệm về trách nhiệm hình sự cũng không hoàn toàn giống nhau. Có quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước.102

Cũng có quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện.103

Một quan điểm khác coi trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết

98 Sargorôđxki M.Đ, Giáo trình Luật hình sự Xô-viết, Nxb Đại học tổng hợp Lenigard, 1968, tr.222-223.

99 Lâykina N.X, Nhân thân người phạm tội và trách nhiệm hình sự, Nxb Đại học tổng hợp Lenigard, 1968, tr.131.

100 Pharuxkin M.X, Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý, Tạp chí luật học, số 4, tr.31.

101 Tkatrevxki Iu.M, Luật hình sự phần chung, Nxb Đại học tổng hợp Maxcơva, 1993, tr.77.

102 Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.41.

103 Đỗ Ngọc Quang, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.14.

198

tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích.104

Lại cũng có quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định.105

Theo nguyên tắc, người có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, gây thiệt hại cho xã hội phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này phù hợp với nguyên tắc công bằng, công lý và đạo lý. Một người có hành vi bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện, thực hiện không đến nơi đến chốn những gì mà pháp luật hình sự yêu cầu, gây ra hoặc đe doạ gây ra hậu quả cho xã hội bị cho là tội phạm thì phải gánh chịu hậu quả, như là trách nhiệm pháp lý bất lợi trước Nhà nước và xã hội. Việc quy định trách nhiệm pháp lý bất lợi đối với người có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội như là một cơ chế để Nhà nước bảo vệ các quan hệ xã hội trước hành vi nguy hiểm. Trách nhiệm pháp lý ở đây được cụ thể bằng trách nhiệm hình sự vì nó được áp dụng đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự.

Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, buộc người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của mình, được thể hiện bằng việc Toà án nhân danh Nhà nước, tuân theo một thủ tục tố tụng riêng, kết án người phạm tội.

II. ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ SỞ CỦA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Từ khái niệm về trách nhiệm hình sự có thể rút ra các đặc điểm của trách nhiệm hình sự như sau:

- Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội. Trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh trên cơ sở khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất kỳ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Có những hành vi về mặt khách quan là rất nguy hiểm, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho xã hội nhưng được loại trừ tính chất phạm tội thì người thực hiện hành vi đó sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự. Mặt khác, có những người dù đã thực hiện hành vi nguy hiểm bị coi là tội phạm nhưng vì một hoặc một số căn cứ nhất định mà được miễn trách nhiệm hình sự.

- Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được xác định bằng trình tự, thủ tục riêng. Trình tự, thủ tục riêng này tuân theo pháp luật về tố tụng hình sự và được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và người tiến hành tố tụng. Ngoài các cơ quan tố tụng hình sự và người tiến hành tố tụng ra, không một cơ quan Nhà nước hoặc công dân nào có quyền tiến hành các trình tự, thủ tục để xác định trách nhiệm hình sự. Đây là nét đặc biệt mà việc xác định các trách nhiệm pháp lý khác không có được.

104 Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 1999, tr.126.

105 Lê Cảm, Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự (chuyên khảo thứ hai), Hà Nội, 2000, tr.122.

199

- Trách nhiệm hình sự được biểu hiện cụ thể nhất qua việc người phạm tội có thể phải gánh chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước – hình phạt. Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm hình sự là hình phạt. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự không đồng nhất với hình phạt, bởi vì có những người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được miễn hình phạt. Từ “có thể” ở đây hàm ý như thế. Trách nhiệm hình sự có nội dung rộng hơn hình phạt, là hậu quả pháp lý chung mà người phạm tội phải gánh chịu. Trong khi đó, hình phạt chỉ là một trong những biểu hiện sinh động nhất của trách nhiệm hình sự. Ngoài hình phạt, trách nhiệm hình sự còn có thể biểu hiệu qua các biện pháp tư pháp, miễn hình phạt.

- Trách nhiệm hình sự được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là người phạm tội và một bên là Nhà nước. Trách nhiệm này không được thực hiện đối với chủ thể mà quyền và lợi ích của họ bị xâm hại bởi tội phạm mà là đối với Nhà nước. Vì thế, trong khi xác định trách nhiệm hình sự, các cơ quan nhân danh Nhà nước có thể dựa trên nguyên tắc nhân đạo để làm lợi cho người phạm tội mà không phải cân nhắc lợi ích đó với lợi ích của chủ thể bị xâm hại. Dĩ nhiên, khi vận dụng nguyên tắc nhân đạo, các cơ quan tư pháp hình sự phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế. Ở một khía cạnh khác, chủ thể bị xâm hại cũng không có quyền can thiệp để làm thay đổi trách nhiệm hình sự, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ xảy ra trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng mà việc tiến hành xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ.106

- Trách nhiệm hình sự chỉ được phản án trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Các văn bản của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử (bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật) chỉ là các văn bản nhằm đảm bảo cho việc thực hiện trách nhiệm hình sự sau này chứ không phải là văn bản mà trong đó trách nhiệm hình sự được thực hiện. Đặc điểm này phản ánh nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự.

- Trách nhiệm hình sự chỉ mang tính chất cá nhân. Nội dung này được hiểu ở hai khía cạnh. Thứ nhất, trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng đối với cá nhân người phạm tội chứ không áp dụng đối với những người không có liên quan đến tội phạm, kể cả những người thân thích của người phạm tội. Thứ hai, hiện nay, Luật hình sự Việt Nam chỉ xem xét chủ thể của tội phạm là cá nhân chứ không xem xét pháp nhân. Vì vậy, trách nhiệm hình sự cũng chỉ đặt ra đối với cá nhân.

Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự được biểu hiện thông qua quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 2 Bộ luật hình sự 1999). Trong khoa học pháp lý trong và ngoài nước, có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở của trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nhiều quan điểm thống nhất ở chỗ là xem cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự. Việc khẳng định một người nào đó là phạm tội và buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi phạm tội của mình phải dựa trên cơ sở cấu thành tội phạm về tội phạm đó chứ không phải cơ sở nào khác. Nếu một hành vi nào đó đã thoả mãn tất cả các dấu hiệu cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự thì hành vi đó mới bị coi là tội phạm và người thực hiện nó mới có thể chịu trách nhiệm hình sự.

106 Trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

200

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 201 - 204)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)