I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM
4. Đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Xuất phát từ thực tế đa dạng của trường hợp phạm tội do nhiều người thực hiện, trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của lịch sử pháp luật Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc những giá trị pháp luật của thế giới, Bộ luật hình sự Việt Nam 1999, trên cơ sở của Bộ luật hình sự 159
năm 1985 đã nêu định nghĩa một cách khái quát và xác định rõ phạm vi chủ thể đồng phạm, nguyên tắc xử lý cho các trường hợp phạm tội do đồng phạm.
Khoản 1 Điều 20 Bộ luật này quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Trên cơ sở định nghĩa này, có thể rút ra các dấu hiệu của đồng phạm như sau:
a. Dấu hiệu về mặt khách quan:
- Có từ hai người trở lên và những người này phải có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm (có năng lực trách nhiệm hình sự).
Điều này là tất nhiên vì chỉ khi có ít nhất hai người thì mới có cái gọi là “cùng phạm tội”. Hai hay nhiều người trong đồng phạm đòi hỏi phải có đủ những điều kiện của chủ thể của tội phạm. Nghĩa là, mỗi người trong số họ đều phải đạt tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự và phải không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi theo Điều 13 Bộ luật hình sự (không đề cập đến dấu hiệu của chủ thể đặc biệt đối với những người không phải là người thực hành).
“Cùng thực hiện” gồm nhiều hành vi, có thể là tổ chức, xúi giục, thực hành, giúp sức.
Nếu có nhiều người thực hiện tội phạm nhưng không cùng nhau phạm tội thì không thể có đồng phạm. Chẳng hạn, khi phát hiện anh Hải và Hùng bị tai nạn xe và được mọi người cứu chữa, Hiền và Nguyên (hai tên không nghề nghiệp, không gặp nhau trước) đã xuất hiện. Lợi dụng mọi người đang loay hoay đưa anh Hải và Hùng lên xe lôi đi bệnh viện, Hiền thò tay vào cặp của anh Hải lấy đi 2 triệu đồng và bỏ đi. Còn Nguyên phát hiện có một hộp gì bằng gói thuốc văng ra tại nơi xảy ra tai nạn liền nhặt bỏ túi. Về nhà, Nguyên mở ra xem mới biết đó là 1 kg vàng 24 K. Trong trường hợp này, cả hai có phạm tội nhưng không có đồng phạm vì mỗi người phạm tội theo ý riêng của mình.
Trong đồng phạm, có thể có đủ bốn loại hành vi tổ chức, xúi giục, thực hành, giúp sức tương ứng với bốn vai trò của những người trong đồng phạm hoặc không và cũng có thể một người thực hiện nhiều hành vi để đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, có thể tham gia từ đầu hoặc tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc. Mỗi người trong đồng phạm đều có hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó được thực hiện trong mối liên hệ thống nhất. Hành vi của mỗi cá nhân trong đồng phạm đều có mối quan hệ nhân quả với hậu quả xảy ra. Trong vụ đồng phạm, có thể tất cả mọi người đều có hành vi phạm tội và tổng hợp những hành vi phạm tội đó sẽ đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ một hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội, còn những người khác đóng vai trò hỗ trợ cho hành vi phạm tội.
Một vấn đề đặt ra đã gây ra sự tranh luận trong giới nghiên cứu Luật hình sự là liệu có sự tham gia đồng phạm bằng không hành động không. Chúng ta đã biết, tội phạm cũng có thể được thực hiện bằng không hành động. Như vậy, đồng phạm cũng có thể được thực hiện bằng không hành động.
Trường hợp này xảy ra khi một người có trách nhiệm phải tiến hành các hoạt động để ngăn ngừa
160
người khác thực hiện tội phạm nhưng đã không làm điều đó. Và, việc không tiến hành hoạt động ngăn ngừa đó đã loại trừ các rào cản cần thiết đối với người thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, việc không tiến hành các hoạt động cần thiết để ngăn cản tội phạm chỉ trở thành người giúp sức trong đồng phạm khi điều đó đã được thoả thuận với người thực hiện tội phạm (có thể là biểu hiện ra hoặc ngầm hiểu). Nếu không thoả mãn đồng thời hai điều kiện đó thì không thể có đồng phạm.
Khoảng 16 giờ ngày 22/10/2004, Trung đi qua phố N, đến đoạn bến xe K, thấy chị Trần Nguyễn Tường Vân bị ngã xe máy, mọi người xúm quanh đỡ chị đứng dậy đưa vào lề đường. Trung đến gần thấy trong túi xách của chị Vân có tiền liền thò tay vào lấy một xấp 5 triệu đồng rồi bỏ đi. Khi Trung lấy tiền thì Trần Quang Hồng và Mai Xuân Hà cũng thấy nên đi theo Trung và không nói gì.
Đến chỗ không có ai nhìn thấy, Trung dừng lại đưa cho Hồng và Hà mỗi người 500 ngàn đồng vị sợ hai người tố giác.
Tại cơ quan điều tra, Hồng và Hà khai khi thấy Trung lấy tiền bỏ đi liền đi theo để xin chút ít.
Khi lấy tiền, Trung cũng nhận thấy Hồng và Hà đang nhìn mình.
Trong trường hợp này việc không ngăn cản Trung phạm tội của Hồng và Hà có thể được xem như là có sự thoả thuận ngầm với nhau. Tuy nhiên, Hồng và Hà không phải là người có trách nhiệm phải quản lý tài sản của chị Vân. Do đó, không có đồng phạm xảy ra. Hành vi của Hồng và Hà chỉ có thể bị xem là không tố giác tội phạm.
- Hai hay nhiều người phải cùng thực hiện một tội phạm có lỗi cố ý.
Tội phạm có thể xảy ra đồng phạm phải là tội phạm có mặt chủ quan là lỗi cố ý. Cố ý ở đây có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. Đối với những tội phạm có lỗi vô ý thì không thể có đồng phạm. Ví dụ, Dũng chở Hoà đi nhậu. Vì đám bạn đã ngồi trước ngoài quán nhậu và điện thoại thúc giục nên Hoà nói: “Chạy nhanh lên mậy”. Dũng tăng tốc, vượt quá tốc độ cho phép và gây tai nạn dẫn đến làm chết cháu Vy đang đi xe đạp. Trong trường hợp này, chỉ có Dũng bị xem là phạm tội vi phạm vi định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự) chứ Hoà không có đồng phạm vì tội này có mặt chủ quan là lỗi vô ý.
b. Dấu hiệu mặt chủ quan:
Dấu hiệu mặt chủ quan là dấu hiệu rất quan trọng để xác định có đồng phạm hay không. Dấu hiệu này đòi hỏi phải có sự “cùng cố ý”. Đối với những tội phạm có mục đích thì đòi hỏi những người trong đồng phạm phải có “cùng mục đích” phạm tội. Cùng cố ý trong đồng phạm không chỉ cố ý đối với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn đối với hành vi của những người đồng phạm khác. Cùng cố ý trong đồng phạm thể hiện ở những nội dung sau:
- Về lý trí: mỗi người trong đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và biết hành vi của người khác cũng nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. Đồng thời mỗi người cũng thấy trước được hậu quả của hành vi mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện xảy ra.
- Về ý chí: mỗi người trong đồng phạm đều mong muốn có hoạt động chung, cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Nếu có nhiều người cùng phạm tội nhưng không có sự thống nhất ý chí thì không có đồng phạm xảy ra mà chỉ là những trường hợp phạm tội riêng lẻ. Ví dụ, Hun Don Hao là một tay trùm buôn lậu thuốc lá qua biên giới 161
Việt Nam - Campuchia, người Hàn Quốc. Để có thể vận chuyển được số lớn thuốc lá ngoại qua biên giới, Hao đã thuê những người chạy xe Honda thuê (làm “cửu vạn”) chở từng lượng hàng qua khỏi cửa khẩu, trung bình 1000 bao/người/chuyến. Tất cả những người lái xe ôm này đều là những người không hề biết nhau trước, cũng không hẹn nhau sẽ vận chuyển hàng lậu. Họ có hoạt động chung lý do là họ được Hao thuê. Vì vậy, dù họ cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có đồng phạm xảy ra ở đây.
Đối với những những tội phạm luật quy định có mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì những người trong đồng phạm phải có cùng mục đích khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc tiếp nhận mục đích đó. Ví dụ, Phan Tấn G, Bùi Hữu A và Quách Thanh P là những sĩ quan của chế độ nguỵ quyền Sài gòn. Dù đã được đi học tập cải tạo sau ngày giải phóng nhưng bọn chúng lúc nào cũng mang trong lòng mối thù với chế độ đương thời. Không thể làm gì được nên chúng thường lợi dụng những dịp lễ hoặc những dịp cả nước đón mừng sự kiện gì đó để phá hoại cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa nhằm gây tiếng vang, làm mất an ninh chính trị. Đêm 12/08/1999, sau khi đội tuyển bóng đá Việt Nam chiến thắng trận bán kết tại Seagame, dân hâm mộ bóng đá thành phố X đã xuống đường chào mừng. Lợi dụng tình hình đó, G, A và P đã đập phá trụ sở phường Z cho thoả lòng căm ghét chính quyền. Cùng tham gia đập phá còn có Trịnh Minh K và Bạch Kha E là hai dân hâm mộ bóng đá cuồng nhiệt.
Trường hợp này, G, A và P đã phạm tội “Phá hoại cơ sớ vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã rõ (mục đích chống chính quyền nhân dân) (Điều 85 Bộ luật hình sự). Riêng K và E vì quá khích mà tham gia đập phá nên không là đồng phạm trong vụ phạm tội này mà có thể cấu thành một tội phạm khác, đó là “Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” (Điều 143 Bộ luật hình sự) vì hai người này không có mục đích chống chính quyền nhân dân.
Tương tự như thế, đối với các tội phạm mà dấu hiệu động cơ là bắt buộc trong cấu thành tội phạm, để được xem là đồng phạm, những người phạm tội phải có cùng động cơ phạm tội. Chẳng hạn, để có đồng phạm đối với tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế đòi hỏi những người đồng phạm phải có cùng động vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.