Thời hiệu thi hành bản án hình sự

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 276 - 280)

PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

BÀI 16: CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG LUẬT HÌNH SỰ

II. THỜI HIỆU TRONG LUẬT HÌNH SỰ

2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự

a) Khái niệm:

Về nguyên tắc, mọi hình phạt sau khi đã tuyên bằng bản án có hiệu lực phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh. Dù vậy, thực tế có những bản án vì những nguyên nhân nhất định (Toà án quên ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án quên thi hành án, bản án bị thất lạc…) nên nó không được thi hành. Trong suốt thời gian chờ thi hành án, người bị áp 273

dụng hình phạt vẫn chờ đợi để được thi hành và tự mình cải tạo trở thành người tốt, sống có ích cho xã hội, không phạm tội mới, không có ý thức lẩn tránh pháp luật thì không cần buộc người bị áp dụng hình phạt phải chấp hành hình phạt nữa. Ở phương diện thứ hai, để đảm bảo mục đích, hình phạt phải được áp dụng chẳng những phải tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà còn phải được thi hành đúng lúc. Đứng ở góc độ các cơ quan thi hành án, dù được Nhà nước trao quyền có thể dùng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo thi hành hình phạt nhưng nếu thiếu trách nhiệm dẫn đến người bị kết án phải chờ đợi mà không được thi hành thì không còn quyền buộc người bị kết án thi hành nữa. Trên các cơ sở đó, Điều 55 BLHS hiện hành quy định: “Thời hiệu thi hành bản án là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên”.

Cho đến nay, cả về mặt lập pháp, lý luận và thực tiễn đều chưa có sự xác nhận chính thức việc không buộc một người chấp hành bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật là miễn chấp hành bản án hay miễn chấp hành hình phạt. Một người phải chấp hành bản án đó khi đó là bản án kết tội có kèm theo hình phạt. Nếu bản án không có hình phạt thì về mặt hình sự, người bị kết án không có gì để chấp hành. Nếu bản án hình sự bao gồm cả phần bồi thường dân sự thì phần dân sự sẽ áp dụng thời hiệu thi hành bản án dân sự. Cho nên, có thể khẳng định, việc không buộc một người phải chấp hành bản án hình sự do hết thời hiệu thực chất là không buộc họ phải chấp hành hình phạt đã tuyên đối với họ.

Điều này đồng nghĩa với việc miễn chấp hành hình phạt cho người bị kết án. Tuy nhiên, đây là một dạng miễn chấp hành hình phạt một cách đương nhiên, không giống các trường hợp miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 57, là các trường hợp cần phải có sự xem xét, đánh giá và quyết định của Toà án.

Quan điểm xem việc không buộc một người phải chấp hành bản án đã tuyên đối với mình là miễn chấp hành hình phạt đã từng được thừa nhận trong thực tiễn xét xử ở nước ta. Thông tư liên ngành số 04/TTLN-TANDTC-VKSNDTC-BNV-BTP (26/12/1986) về việc hướng dẫn áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự, có đoạn nêu: đối với người phạm tội, chỉ bị xử phạt 5 năm tù trở xuống mà vì bệnh tật, sinh đẻ hoặc hoàn cảnh khó khăn, được tạm hoãn thi hành án nhiều lần, thời gian tạm hoãn đã bằng thời hiệu thi hành bản án và trong thời gian đó họ không phạm tội mới, không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì Toà án quyết định miễn chấp hành hình phạt tù”.

b) Điều kiện để người bị kết án được miễn chấp hành án theo thời hiệu:

Khoản 2, 3 Điều 55 Bộ luật hình sự quy định, người bị kết án không bị buộc phải chấp hành bản án đã tuyên đối với mình khi đã qua các thời gian sau đây:

- 5 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống.

- 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm.

- 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến ba mươi năm.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Các bản án có hiệu lực pháp luật bao gồm:

+ Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định (kháng nghị của VKS cùng cấp, kháng cáo: 15 ngày kể từ ngày tuyên án, hoặc niêm yết công khai;

30 ngày nếu là VKS cấp trên);

274

+ Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay;

+ Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực ngay;

+ Quyết định tái thẩm có hiệu lực ngay.

c) Tính lại thời hiệu thi hành bản án hình sự:

Theo khoản 3 Điều 55 Bộ luật hình sự, thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính lại như sau:

- Nếu sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án lại phạm tội mới thì thời hiệu được tính kể từ ngày phạm tội mới.

Ví dụ, bản án tuyên đối với Hùng có hiệu lực ngày 03/03/2004. Bản án này vì lý do nào đó mà chưa được thi hành nhưng không có lỗi của Hùng. Ngày 04/4/2005, Hùng phạm tội mới. Như vậy, thời hiệu thi hành bản án của bản án đã tuyên đối với Hùng bắt đầu tính lại từ ngày 04/4/2005. Đây cũng là thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của tội phạm mà Hùng thực hiện vào ngày 04/4/2005.

- Nếu sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì không được tính vào thời hiệu. Thời hiệu sẽ tính kể từ ngày người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Tương tự như thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chỉ khi sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án đã trốn tránh và cơ quan Công an đã ra quyết định truy nã anh ta về việc trốn tránh đó thì thời hiệu mới không được tính và thời hiệu sẽ được tính lại kể từ ngày người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Nếu người bị kết án có trốn tránh nhưng không bị truy nã thì thời hiệu vẫn áp dụng đối với anh ta.

Ví dụ, Nguyễn Minh Thiện bị truy tố về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, TAND tỉnh Bình Dương đã ra quyết định bắt Thiện để đảm bảo việc xét xử, nhưng Thiện đã trốn khỏi địa phương nên Công an không bắt được Thiện.

Toà án đã xét xử vắng mặt bị cáo và tại bản án số 62/HSST ngày 7/7/1999, TAND tỉnh Bình Dương đã xử phạt Thiện 3 năm tù.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, TAND tỉnh Bình Dương đã ra quyết định thi hành án đối với Thiện nhưng vẫn không bắt được Thiện để thi hành án cho đến hết 5 năm.

Trong trường hợp này, Thiện sẽ không bị buộc phải chấp hành bản án này nữa vì đã hết thời hiệu.

Theo nguyên tắc, thời hiệu thi hành bản án không được áp dụng đối với những bản án được tạm hoãn chấp hành. Trường hợp này, sau khi hết thời gian tạm hoãn, người bị kết án lại chấp hành bản án, thời gian tạm hoãn không được tính vào thời hiệu. Dù vậy, trong thực tiễn thi hành án, nếu người bị kết án được hoãn thi hành án nhiều lần vì lý do sức khoẻ mà sau thời gian đó, người bị kết án không phạm tội mới, không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, nếu tổng thời gian tạm hoãn bằng thời hiệu thi hành bản án thì Toà án có thể ra quyết định miễn chấp hành án cho họ (Thông tư liên ngành số 04/TTLN-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP (26/12/1986) về việc hướng dẫn áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự).

275

Nói tóm lại, thời gian chậm thi hành bản án mà không do lỗi của người bị kết án thì thời gian đó sẽ được tính vào thời hiệu. Miễn chấp hành hình phạt khi đã hết thời hiệu do Toà án quyết định.

d) Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự:

Điều 56 Bộ luật hình sự còn quy định, đối với các bản án kết tội về các tội phạm quy định tại chương XI (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và XXIV (các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) của Bộ luật này sẽ không được áp dụng thời hiệu.

e) Thời hiệu thi hành bản án và hình phạt tù chung thân, tử hình:

Khoản 4 Điều 55 quy định: “Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm”.

Như vậy, Chánh án Toà án nhân dân tối cao sẽ có toàn quyền quyết định có áp dụng hay không thời hiệu đối với bản án tù chung thân hoặc tử hình theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Việc quy định giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét việc áp dụng thời hiệu đối với các bản án tù chung thân hoặc tử hình (khoản 4 Điều 55 BLHS), cũng có thể được chấp nhận. Tuy nhiên, luật không quy định rõ cơ sở để xem xét và quyết định rằng có áp dụng thời hiệu hay không.

Ngoài ra, luật cũng không quy định thời hạn xem xét này là bao lâu. Mặt khác, việc đồng nhất về chính sách xử lý về vấn đề thời hiệu đối với hai loại hình phạt tù chung thân và tử hình, theo chúng tôi, là chưa hợp lý vì hai loại hình phạt này có nội dung, hậu quả pháp lý rất khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần có chính sách xử lý chúng theo hai hướng khác nhau. Có hai phương án để khắc phục điểm hạn chế này:

Phương án 1: Giữ nguyên quy định của luật hiện hành, nghĩa là:

Đối với bản án tù chung thân đã qua thời hạn mười lăm năm, đối với bản án tử hình đã qua thời hạn hai mươi năm sẽ do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo đó:

+ Quy định rõ các căn cứ tạo cơ sở cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định áp dụng thời hiệu hay không. Các căn cứ đó có thể liên quan đến nhân thân người bị kết án, trường hợp phạm tội, nguyên nhân của việc bản án không được thi hành…;

+ Quy định rõ thời hạn để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định áp dụng thời hiệu hay không.

Phương án 2: Quy định hẳn thời hiệu thi hành bản án tù chung thân hoặc tử hình giống như các bản án khác chứ không giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét và quyết định. Dĩ nhiên, thời hiệu của các bản án tử hình sẽ dài hơn các bản án khác. Theo đó, thời hiệu đối với bản án tù chung thân sẽ là hai mươi năm, đối với bản án tử hình sẽ là hai mươi lăm năm hoặc ba mươi năm.

Nội dung này cần ghi nhận bổ sung vào Điều 55 BLHS hiện hành.

276

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 276 - 280)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)