BÀI 3: NGUỒN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
III. CẤU TRÚC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Bộ luật hình sự được chia làm hai phần: phần chung và phần các tội phạm.
Phần chung là phần quy định về nhiệm vụ của Luật hình sự, cơ sở của trách nhiệm hình sự, về tội phạm, hình phạt và các chế định liên quan đến việc xác định tội phạm và áp dụng hình phạt... Phần các tội phạm là phần quy định về các loại tội phạm và các tội phạm cụ thể cũng như loại và mức hình phạt áp dụng đối với các tội phạm này... Phần chung và phần các tội phạm trong Bộ luật hình sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự. Chúng đều là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các vụ án hình sự. Cả hai phần nói trên của Bộ luật hình sự đều được chia thành các chương. Tuỳ theo nội dung và tính chất của từng vấn đề được quy định, một số chương có thể chia thành mục và gồm nhiều điều luật. Nhìn chung, cấu trúc của Bộ luật hình sự khá hoàn chỉnh, nó cho phép nhà làm luật thực hiện đầy đủ các ý đồ, nội dung cần thiết của một đạo luật. Mặt khác, nó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác áp dụng pháp luật hình sự.
Sơ đồ cấu trúc vĩ mô của Bộ luật hình sự:
BỘ LUẬT HÌNH SỰ
PHẦN CHUNG PHẦN CÁC TỘI PHẠM
CHƯƠNG
MỤC (có ở một số chương)
ĐIỀU
KHOẢN
ĐIỂM
61
2. Cấu trúc vi mô
Cấu trúc vi mô của Bộ luật hình sự là cấu trúc của một quy phạm pháp luật hình sự.
Chúng ta cần phân biệt quy phạm pháp luật với một điều luật. Quy phạm pháp luật là đơn vị hoàn chỉnh nhỏ nhất của một đạo luật, nó có thể tách ra khỏi điều luật. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng cách áp dụng chế tài đối với người vi phạm. Theo đó, quy phạm pháp luật hình sự là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng cách áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Chúng ta đều biết, mỗi quy phạm pháp luật gồm ba phần: phần giả định, phần quy định và phần chế tài. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, quy phạm pháp luật có thể thiếu phần này hoặc phần khác. Quy phạm pháp luật hình sự cũng tương tự như vậy. Trong Bộ luật hình sự, chúng ta có thể chia ra thành hai loại quy phạm pháp luật hình sự:
* Quy phạm pháp luật hình sự phần chung mang tính chỉ dẫn (cho phép hoặc bắt buộc).
Cấu trúc quy phạm pháp luật phần chung có hai bộ phận là giả định và quy định, không có phần chế tài. Tuy nhiên không phải tất cả các quy phạm pháp luật đều chứa đựng hai bộ phận này. Chỉ những quy phạm mang tính chất nguyên tắc mới chứa đựng hai phần này.
Phần quy định trong quy phạm phần chung thường nêu lên quy tắc xử lý, quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan áp dụng pháp luật, cụ thể là các cơ quan có trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm. Chẳng hạn, theo Điều 2 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Trong quy định này, phần giả định là “người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định”, và phần quy định là “phải chịu trách nhiệm hình sự”.
* Quy phạm pháp luật phần các tội phạm. Trong phần các tội phạm, quy phạm pháp luật có đầy đủ ba phần: giả định, quy định và chế tài. Quy phạm pháp luật phần các tội phạm quy định những chuẩn mực pháp lý cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Các chuẩn mực này gọi là cấu thành tội phạm. Nói về phần giả định có một số quan điểm cho rằng quy phạm pháp luật hình sự không có phần giả định hoặc phần giả định được coi là ẩn.
Theo chúng tôi, quan điểm này chưa chính xác. Phần giả định trong quy phạm pháp luật hình sự phần các tội phạm được biểu hiện thông qua cụm từ “người nào…”, “công dân Việt nam nào…”, “người đã thành niên nào…”, “người có chức vụ quyền hạn nào…”...v.v... Ví dụ, “người nào vô ý làm chết người” là phần giả định của quy phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự 1999.
Phần quy định là phần nêu lên các nguyên tắc xử sự bắt buộc đối với các chủ thể. Phần quy định trong phần các tội phạm là những quy định mang tính chất cấm chỉ. Sự cấm chỉ biểu hiện ở việc Nhà nước luôn đe doạ áp dụng hình phạt đối với bất kỳ một hành vi phạm tội nào. Có thể khẳng định phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự trong phần các tội phạm ẩn trong phần giả định. Chẳng hạn, quy định của quy phạm pháp luật tại Điều 98 có thể được tìm thấy ẩn chứa trong cụm từ “vô ý làm chết người”.
Thông qua phần giả định, có thể phân thành 3 loại quy định trong phần các tội phạm như sau:
- Quy định giản đơn: là loại quy định chỉ nêu tên tội danh, không cần có những mô tả chi tiết về dấu hiệu pháp lý của tội danh hoặc chỉ nêu những dấu hiệu chung nhất trong số các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Chúng ta thường bắt gặp loại quy định này ở những 62
trường hợp mà hành vi phạm tội quá rõ ràng, dễ nhận biết. Ví dụ: Điều 93 quy định “Người nào giết người...”, Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Người nào trộm cắp tài sản…”…v.v…
- Quy định mô tả: là loại quy định được áp dụng đối với những hành vi phạm tội có tính chất phức tạp, dễ bị nhầm lẫn với các hành vi khác. Quy định mô tả xác định trực tiếp trong luật các dấu hiệu đặc trưng của cấu thành tội phạm cụ thể. Ví dụ: Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản...”.
- Quy định viện dẫn: là loại quy định trong đó nhà làm luật chỉ nêu tên gọi tội phạm hoặc chỉ nêu điều kiện để áp dụng chế tài mặc dù đây cũng là các tội phạm có tính chất phức tạp. Để xác định dấu hiệu pháp lý của tội phạm đó cần xem xét các điều luật khác. Các điều luật này có thể nằm trong Bộ luật hình sự, một đạo luật hoặc một văn bản luật điều chỉnh trong lĩnh vực khác. Ví dụ: Điều 114 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi...”. Hành vi cưỡng dâm trẻ em cũng thật sự phức tạp, khó nhận biết và cần thiết phải được mô tả rõ ràng về các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nhà các làm luật đã không làm như thế là bởi vì họ đã mô tả hành vi cưỡng dâm tại Điều 113 rồi là “Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc vào mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu...”. Vì vậy, muốn xác định cấu thành tội phạm của tội này chúng ta phải tra cứu Điều 113.
Phần chế tài là phần mang tính bắt buộc của quy phạm pháp luật phần các tội phạm (ngoại trừ một số quy phạm pháp luật mang tính chất hướng dẫn như Điều 292, 315…). Đó là phần thể hiện sự đánh giá của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và được định lượng bằng mức và loại hình phạt. Có các loại chế tài sau:
- Chế tài tương đối dứt khoát: nêu lên mức thấp nhất và mức cao nhất của một khung hình phạt (có trường hợp chỉ nêu mức cao nhất). Loại chế tài này ít gặp trong các quy định của phần riêng Bộ luật hình sự hiện hành vì nó không tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật hình sự trong việc phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt. Ví dụ, Điều 150 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Người nào giao cấu…thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.
- Chế tài lựa chọn: là loại chế tài trong đó Nhà làm luật nêu nhiều loại hình phạt để Toà án lựa chọn. Loại chế tài này thường gặp trong các quy định của phần riêng Bộ luật hình sự. Chẳng hạn, Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Khi quy định chế tài lựa chọn, thẩm quyền và khả năng của Toà án được mở rộng, có điều kiện thực hiện nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt.
- Chế tài dứt khoát: Luật hình sự Việt Nam hiện chưa có quy phạm pháp luật nào quy định chế tài dứt khoát. Chế tài này đã từng được quy định trong Luật Hồng Đức, Luật Gia Long, Luật hình sự của chế độ Việt Nam Cộng hoà. Ví dụ, Điều 278 Bộ hình luật 1972 quy định: “Sẽ bị phạt khổ sai chung thân người nào làm giả ấn tín quốc gia hay dùng ấn tín giả ấy…”
63