PHẦN I: HỆ THỐNG HÌNH PHẠT
II. CÁC LOẠI HÌNH PHẠT
2. Các hình phạt bổ sung
a. Cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (Điều 36 Bộ luật hình sự).
Hình phạt này được áp dụng trong trường hợp nếu xét thấy để người bị kết án tiếp tục đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định nào đó sau khi chấp hành xong hình phạt chính thì họ lại có điều kiện phạm tội mới, tiếp tục gây nguy hại cho xã hội. Hình phạt này áp dụng nhằm tăng cường hiệu lực của hình phạt chính đã áp dụng đối với người bị kết án, củng cố hiệu quả của hình phạt vì đã tước bỏ môi trường thuận lợi cho khả năng phạm tội mới.
Thời hạn cấm là từ một năm132 đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.
Người có chức vụ là người được bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc một hình thức nào khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương được giao thực hiện một công vụ nhất định trong khi thực hiện
131 http://web.amnesty.org/page/deathpenalty-facts-eng.
132 Bộ luật hình sự Việt Nam 1985 quy định thời hạn này là từ 2 năm đến 5 năm.
230
công vụ (Điều 277 Bộ luật hình sự). Khái niệm này rất rộng. Vì vậy, khi tuyên cấm đảm nhiệm chức vụ, Toà án cần cá thể hoá hình phạt bằng cách xác định cụ thể một hoặc một số chức vụ cụ thể nào đó mà người bị kết án không được đảm nhiệm. Toà án không nên tuyên chung chung, như: “cấm Trần Văn A đảm nhiệm những chức vụ liên quan đến quản lý kinh tế trong 5 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù”. Thông thường, có thể có chức vụ liên quan đến tội phạm mà người phạm tội đã thực hiện, có chức vụ không liên quan đến tội phạm đó. Toà án không nên tuyên chung chung để cấm người bị kết án đảm nhiệm cả những chức vụ không có liên quan vì như vậy vừa không để đảm bảo mục đích hình phạt vừa hạn chế quyền lợi của người bị kết án một cách không cần thiết.
Nghề nghiệp là công việc hàng ngày để sinh sống, như giáo viên, bác sĩ, luật sư, tài xế…Đây là công việc gắn liền với đời sống của con người do đào tạo, kinh nghiệm hoặc cha truyền con nối.
Công việc nhất định đề cập ở đây thường không ổn định, có tính chất thời vụ, như khuân vác, giữ nhà, trông trẻ…Hiện nay, việc phân biệt giữa nghề nghiệp và công việc không phải lúc nào cũng đơn giản.
Tuy nhiên, khi phân tích hình phạt này, chúng ta không cần đi sâu phân biệt chúng. Vấn đề đặt ra, khi muốn áp dụng hình phạt bổ sung này, Toà án cần phải xác định cụ thể những nghề hoặc công việc nào cần cấm đối với người bị kết án. Chỉ những nghề hoặc công việc nào có liên quan đến tội phạm mà người bị kết án đã thực hiện thì mới nên bị cấm.
b. Cấm cư trú (Điều 37 Bộ luật hình sự):
Theo Điều 37 Bộ luật hình sự thì cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định. Như vậy, chỉ áp dụng hình phạt này đối với người bị kết án phạt tù, các hình phạt chính khác luật không cho phép áp dụng kèm hình phạt bổ sung này. Tuy nhiên, không phải ai bị kết án phạt tù cũng có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung này. Chỉ khi thực hiện những tội phạm mà Bộ luật hình sự có quy định kèm theo hình phạt bổ sung này thì Toà án mới có quyền áp dụng đối với người bị kết án. Bản chất của hình phạt này là tước bỏ của người bị kết án quyền cư trú (tạm trú và thường trú) ở một số địa phương nhất định. Một số nơi sau đây có thể bị cấm cư trú: thành phố lớn và khu công nghiệp tập trung, khu vực biên giới, bờ biển, hải đảo, khu vực có cơ sở quốc phòng quan trọng, có đầu mối giao thông quan trọng... Người bị kết án vì không được cư trú ở những địa phương nhất định đó nên họ mất đi khả năng sử dụng các điều kiện vốn có của mình để phạm tội. Vì vậy, khi áp dụng hình phạt này, Toà án cần xác định rõ trong bản án những địa phương nào, khu vực nào mà người bị kết án không được cư trú.
Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Cấm cư trú áp dụng phổ biến đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm sở hữu, và xâm phạm trật tự công cộng.
Thực tiễn cho thấy, việc tổ chức thi hành hình phạt này còn nảy sinh bất cập. Nhiều trường hợp, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, người bị cấm cư trú vẫn về sinh sống với gia đình, nơi người này bị cấm cư trú, mà không bị buộc phải đi nơi khác. Có nhiều lý do, nhưng cơ bản là do chưa có hướng dẫn về việc thi hành hình phạt này. Thông thường, do không được cư trú ở địa phương cũ, người bị kết án phải xin tạm trú ở địa phương khác. Tuy nhiên, địa phương này không muốn tiếp nhận những cá nhân như vậy. Điều này buộc người bị kết án phải trở về địa phương cũ để sinh sống dù không được nhập hộ khẩu. Vì vậy, để hình phạt này phát huy hiệu quả, cần có văn bản hướng dẫn về việc thi hành và quy định cụ thể trách nhiệm của chính quyền địa phương mà người bị kết án sẽ đến cư trú.
231
c. Quản chế (Điều 38 Bộ luật hình sự):
Điều 38 Bộ luật hình sự quy định: “Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”.
Trước hết ta xác định, hình phạt bổ sung này chỉ áp dụng đối với người bị kết án phạt tù. Nội dung của hình phạt quản chế bao gồm: tước quyền tự do cư trú của người bị kết án ở mức độ cao hơn so với hình phạt cấm cư trú (nghiêm khắc hơn) vì hình phạt này buộc người bị kết án phải cư trú ở một địa phương nhất định. Quá trình làm ăn, sinh sống, cải tạo của người bị kết án phải đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền và nhân dân địa phương. Người bị cấm cư trú nếu muốn ra khỏi nơi cư trú đó phải xin phép chính quyền địa phương. Thực tiễn có nhiều Toà án tuyên áp dụng hình phạt quản chế nhưng lại không tuyên rõ là tại địa phương nào. Điều này sẽ gây khó khăn cho công tác thi hành hình phạt.
Người bị kết án bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 Bộ luật hình sự (sẽ nghiên cứu sau), bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Những nghề hoặc công việc nhất định này tuỳ vào từng trường hợp cụ thể Toà án sẽ xem xét và quyết định sao cho nâng cao hiệu quả của hình phạt.
Hình phạt bổ sung quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong nhưng trường hợp khác do Bộ luật này quy định”. Thời hạn quản chế là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
d. Tước một số quyền công dân (Điều 39 Bộ luật hình sự):
Theo Điều 39 Bộ luật hình sự, công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:
- Quyền ứng cử,133 quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước. Theo Hiến pháp, cơ quan quyền lực Nhà nước gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Nếu Toà án tước cả hai quyền này thì người bị kết án sẽ không được ứng cử và tham gia bầu cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
- Quyền làm việc trong các cơ quan Nhà nước. Người bị kết án bị tước quyền này không thể trở thành công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương. Theo Hiến pháp, các cơ quan Nhà nước bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, các Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan thuộc UBND, Toà án, Viện kiểm sát.
- Quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân. Người bị tước quyền này không được phục vụ trong các đơn vị Quân đội và Công an.
133 Bộ luật hình sự Việt Nam 1985 không quy định tước quyền ứng cử nhưng có quy định người bị kết án bị tước quyền đảm nhiệm cương vị phụ trách trong các tổ chức xã hội.
232
Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.
đ. Tịch thu tài sản (Điều 40 Bộ luật hình sự):
Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ Nhà nước (Điều 40 Bộ luật hình sự). Cần lưu ý các điểm sau khi áp dụng hình phạt tịch thu tài sản:
- Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong những trường hợp do Bộ luật hình sự quy định.
- Tài sản tịch thu phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của người bị kết án.
- Khi tịch thu toàn bộ tài sản nhưng vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào luật có quy định cho phép áp dụng hình phạt tịch thu tài sản thì Toà án phải áp dụng hình phạt này. Chỉ khi người bị kết án có khối tài sản bất chính hoặc không tịch thu tài sản thì người bị kết án có thể dùng tài sản đó để phạm tội tiếp tục. Chẳng hạn, người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia dù không có tài sản thu nhập do phạm tội nhưng vẫn có thể bị tịch thu tài sản.
Về nguyên tắc, người bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản vẫn có thể bị áp dụng hình phạt tiền. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các Toà án thường chỉ chọn một trong hai loại hình phạt này. Chỉ khi áp dụng hình phạt tiền theo quy định của Bộ luật hình sự mà số tiền chưa bao gồm được phần tài sản do phạm tội mà có thì Toà án mới áp dụng thêm hình phạt tịch thu tài sản.
Theo quy định, Toà án có thể quyết định tịch thu toàn bộ hay một phần tài sản của người bị kết án. Điều này căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, những khoản thu nhập bất chính từ hành vi phạm tội và tình hình tài sản của người bị kết án. Nếu quyết định tịch thu toàn bộ tài sản thì Toà án phải cân nhắc và xác định là để lại những loại tài sản nào để người bị kết án và gia đình họ có thể duy trì cuộc sống bình thường, như: quần áo, các vật dụng thiết yếu cho sinh hoạt gia đình. Trường hợp, quyết định tịch thu một phần tài sản, Toà án nên tuyên cụ thể là tịch thu tài sản nào chứ không nên tuyên chung chung là tịch thu 1/2, 1/3…tài sản của người bị kết án. Bởi vì việc tuyên chung chung như vậy rất khó cho công tác thi hành án. Trong trường hợp người bị kết án còn có nghĩa vụ bồi thường thì tịch thu tài sản phải nằm trong phạm vi các tài sản còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Về hình phạt bổ sung phạt tiền và trục xuất, chúng ta đã có dịp nghiên cứu khi bàn đến các loại hình phạt chính vì chúng đồng thời cũng là hình phạt chính.
Bộ luật hình sự năm 1999 đã loại bỏ hình phạt tước danh hiệu quân nhân (Điều 71 Bộ luật hình sự năm 1985). Việc loại bỏ hình phạt bổ sung này nhằm thực hiện nội dung không phân biệt công dân bình thường với quân nhân khi phạm tội, bởi vì hình phạt này chỉ áp dụng đối với quân nhân khi phạm tội.
233