CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 242 - 245)

PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

BÀI 15: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

II. CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong suốt quá trình tố tụng hình sự. Bởi vì, suy cho cùng chúng ta quy định tội phạm là để xác định rằng hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội cao và xác định biện pháp xử lý đối với hành vi đó bằng một hình phạt cụ thể. Tất cả các hoạt động trong quá trình tố tụng (hình sự) cuối cùng cũng chỉ nhằm mục đích áp dụng hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề và là điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng). Ngược lại, quyết định một hình phạt không đúng đắn thì không thể đảm bảo mục đích hình phạt.

Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi lẽ nó sẽ làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật. Nhưng hình phạt quá

135 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.255; Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.399; Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.219; …v.v…

239

nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật. Hình phạt có đạt mục đích hay không và đến mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố (yếu tố lập pháp, áp dụng pháp luật...), trong đó, yếu tố áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng, bởi vì chỉ trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cơ sở quyết định hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể thì Toà án mới có thể cho ra đời một hình phạt đúng đắn và có hiệu quả, khi đó, các yếu tố về mặt lập pháp mới có ý nghĩa thực tiễn được. Để có được một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý, khi quyết định hình phạt Toà án phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định - nguyên tắc quyết định hình phạt. Thực ra, nguyên tắc quyết định hình phạt cũng là các nguyên tắc của Luật hình sự. Tuy nhiên, quyết định hình phạt là một hoạt động đặc thù và có vai trò cực kỳ quan trọng. Cho nên, vẫn tồn tại các nguyên tắc quyết định hình phạt được triển khai một cách triệt để và cụ thể hoá thể hiện tính đặc thù của hoạt động quyết định hình phạt.

Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng, những nguyên lý chỉ đạo, xác định và định hướng cho hoạt động của Toà án khi lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội.

Nội dung của các nguyên tắc quyết định hình phạt được quyết định bởi bản chất và mục đích của hình phạt. Mặc dù các nguyên tắc quyết định hình phạt có tính độc lập tương đối với các mục đích của hình phạt nhưng ở chừng mực nào đó, chúng cũng có mối liên hệ với các mục đích của hình phạt và định hướng để đạt mục đích đó. Việc cân nhắc các mục đích của hình phạt cho phép xác định được loại và mức hình phạt nào trong trường hợp cụ thể là tối ưu cho việc thoả mãn mục đích của hình phạt. Trong khi đó, việc tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt sẽ đảm bảo cho hoạt động của Toà án được đúng đắn, tạo điều kiện để đạt các mục đích của hình phạt. Điều đó thể hiện mối liên hệ biện chứng, tác động lẫn nhau giữa bản chất, mục đích của hình phạt với các nguyên tắc quyết định hình phạt.

Các nguyên tắc quyết định hình phạt có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc chung của Luật hình sự, nhưng với tư cách là các nguyên tắc đặc thù trong hoạt động quyết định hình phạt, chúng vẫn có tính độc lập tương đối. Điều này giúp ta xác định trong số các nguyên tắc chung của Luật hình sự, các nguyên tắc nào đồng thời cũng định hướng trong quá trình quyết định hình phạt. Để trở thành các nguyên tắc quyết định hình phạt, nội dung của chúng chẳng những thể hiện là sự chỉ đạo, định hướng cho việc áp dụng pháp luật hình sự, được quy định trực hoặc gián tiếp trong Luật hình sự, phù hợp với chính sách hình sự trong mỗi giai đoạn mà nội dung của nó phải là những tư tưởng, định hướng cho hoạt động của Toà án trong quyết định hình phạt.

1. Nguyên tắc pháp chế

Nguyên tắc pháp chế XHCN chẳng những có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quyết định hình phạt mà còn là nguyên tắc có ý nghĩa hàng đầu của Luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung. Tư tưởng chủ đạo của nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định hình phạt đối với người bị kết án, Toà án phải tuân thủ triệt để các quy định của Luật hình sự. Chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với hành vi phạm tội đã được quy định trong Luật hình sự. Điều 2 Bộ 240

luật hình sự quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Việc Luật hình sự nước ta bỏ “nguyên tắc tương tự” là một việc làm có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn. Nó củng cố và tăng cường pháp chế XHCN, là cơ sở pháp lý vững chắc của việc quyết định hình phạt.

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:

- Chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với người có hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Để tạo tiền đề cho việc đảm bảo nội dung này, đòi hỏi phải định tội danh đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

- Sau đó, trên cơ sở đánh giá nhiều tình tiết khách quan và chủ quan, căn cứ vào những quy định có tính nguyên tắc của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Toà án quyết định một hình phạt có tính xác định, có căn cứ và hợp lý. Tính xác định của hình phạt thể hiện ở chỗ, hình phạt phải cụ thể về loại hình và thời hạn. Tính có căn cứ đòi hỏi Toà án phải nghiên cứu kỹ, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án để làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt. Tính hợp lý của hình phạt thể hiện trong số các hướng giải quyết khác nhau, Toà án lựa chọn được một hình phạt đúng pháp luật và công bằng, đảm bảo tinh thần của các nguyên tắc khác, nhất là nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự.

- Xét về mặt tố tụng, nguyên tắc pháp chế yêu cầu Toà án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước có quyền quyết định hình phạt đối với bị cáo. Nên khi đó, Toà án phải tuân thủ những quy định về thủ tục hết sức chặt chẽ và chỉ có thể tuyên những hình phạt được luật quy định.

2. Nguyên tắc nhân đạo

Nhân đạo là sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người. Nguyên tắc này đòi hỏi Toà án khi quyết định hình phạt phải luôn luôn có ý thức áp dụng một hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo mà không trái với luật. Toà án cần có thái độ đúng đắn khi cân nhắc lợi ích của xã hội, Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể thống nhất biện chứng, hài hoà và hợp lý. Không thể nói đến nhân đạo nếu khi quyết định hình phạt mà quá đề cao lợi ích của Nhà nước, xã hội, hạ thấp, xem thường lợi ích của cá nhân hoặc ngược lại.

- Nguyên tắc nhân đạo thể hiện thái độ của Nhà nước tập trung ở mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chứ không nhằm mục đích trừng trị.

Mục đích này đòi hỏi Toà án hết sức quan tâm, xem xét đến nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt.

- Cần có thái độ nghiêm khắc với những tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội cao không mâu thuẫn với nguyên tắc nhân đạo. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nguyên tắc nhân đạo yêu cầu phải chọn một biện pháp nghiêm khắc thích hợp, tuân theo một nguyên lý cơ bản là người phạm tội cũng là con người và bất cứ người nào lầm đường, lạc lối đều có thể được cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội. C . Mác viết : “Cả lịch sử lẫn lý trí đều xác nhận như nhau cái sự thật là: sự tàn nhẫn không đếm xỉa đến bất kỳ sự khác biệt nào, làm cho sự trừng phạt trở nên hoàn toàn vô hiệu, bởi vì sự tàn nhẫn thủ tiêu sự 241

trừng phạt với tư cách là kết quả của pháp luật”. Việc duy trì hình phạt tử hình ở một số nước không phải xuất phát từ lý luận cho rằng, người bị kết án đã không còn khả năng cải tạo được nữa mà xuất phát từ mục đích phòng ngừa chung của hình phạt.

3. Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt

Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự. Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, Toà án dựa vào ý thức pháp luật của mình, dựa trên cơ sở những quy định của luật hình sự, những tình tiết khác nhau của vụ án để quyết định một hình phạt đảm bảo sự tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Hầu hết các quy định về hình phạt của phần chung Bộ luật hình sự thể hiện rất rõ tư tưởng của nguyên tắc này. Chẳng hạn, quy định điều kiện áp dụng các loại hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, phạm nhiều tội và có nhiều bản án...v.v...Việc quy định chế tài trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự cũng thể hiện tư tưởng này khi quy định chế tài tuỳ nghi lựa chọn, khung hình phạt rộng với nhiều loại hình phạt khác nhau cho phép Toà án trong từng trường hợp cụ thể có thể lựa chọn một hình phạt đúng đắn nhất đối với bị cáo.

Bên cạnh đó, một số quan điểm còn cho rằng, ngoài ba nguyên tắc chúng ta đã nghiên cứu còn có một nguyên tắc mà Toà án phải tuân thủ khi quyết định hình phạt là nguyên tắc công bằng.136 Thật ra, nếu Toà án thấm nhuần ý thức pháp luật, tư tưởng nhân đạo và cá thể hoá hình phạt thì tất sẽ quyết định một hình phạt công bằng. Bởi vì, suy cho cùng tư tưởng công bằng cũng không nằm ngoài sự đòi hỏi có được một hình phạt phải đúng pháp luật, tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh đúng dư luận xã hội và có sức thuyết phục cao.

Việc nghiên cứu các nguyên tắc quyết định hình phạt có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật. Một hình phạt có đúng pháp luật, hợp lý và công bằng hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức và áp dụng các nguyên tắc đó trong xét xử. Việc làm sáng tỏ các nguyên tắc quyết định hình phạt góp phần vào việc nhận thức bản chất, nội dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định quyết định hình phạt, phân biệt chúng với các căn cứ quyết định hình phạt và đưa ra những phương án tối ưu cho việc thể hiện chúng trong các quy phạm của Luật hình sự. Mặt khác, nó còn là những tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động của Toà án khi chọn và quyết định loại và mức hình phạt đối với bị cáo trong từng vụ án cụ thể, là tiền đề và là điều kiện để đạt mục đích của hình phạt.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 242 - 245)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)