PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
BÀI 15: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
IV. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI VÀ TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN
2. Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án
Có nhiều bản án theo Luật hình sự Việt Nam là nhiều bản án hình sự, xảy ra trong hai trường hợp sau (Điều 51 Bộ luật hình sự):
a) Một người đang phải chấp hành một bản án mà bị xét xử về một tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án này.
Ví dụ, năm 2002, Tí phạm tội trộm cắp tài sản và bị phạt 3 năm cải tạo không giam giữ. Đang trong thời gian chấp hành hình phạt, Tí bị phát hiện đã từng phạm tội cướp giật tài sản vào năm 2001.
Trong trường hợp này, Toà án quyết định hình phạt đối với tội phạm đang bị xét xử (tội thực hiện trước), sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự hiện hành. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
Như vậy, việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp này tuân thủ quy định của Điều 50 về tổng hợp hình phạt, nghĩa là vẫn có thể xảy ra hai trường hợp là thu hút hoặc cộng hình phạt. Đối với trường hợp thu hút thì không có gì để bàn vì hình phạt chung là tù chung thân hoặc tử hình. Do đó, điều luật quy định “thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung” chỉ xảy ra đối với trường hợp cộng hình phạt.
Có thể mô tả công thức cộng hình phạt trong trường hợp này như sau:
H(t1) = H(tt) + H(đang ch), (với điều kiện H(t1) < hoặc = max) H(pch) = H(t1) – H(đã ch)
Trong đó:
- H(t1) là hình phạt tổng hợp trong trường hợp đang chấp hành hình phạt mà bị xét xử về tội đã thực hiện trước;
- H(tt) là hình phạt của tội thực hiện trước khi có bản án đang chấp hành;
267
- H(đang ch) là hình phạt đang chấp hành;
- H(đã ch) là hình phạt đã chấp hành;
- H(pch) là hình phạt còn lại phải tiếp tục chấp hành.
b) Một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới.
Ví dụ, năm 2003, Phụng phạm tội cố ý gây thương tích và bị phạt tù. Đang chấp hành hình phạt, Phụng đã trốn khỏi nơi giam giữ (phạm tội mới).
Trong trường hợp này, Toà án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự hiện hành.
Tương tự trường hợp trên, có thể mô tả công thức tổng hợp hình phạt đối với trường hợp này như sau:
H(t2) = H(tm) + H(đang ch) – H(đã ch), (với điều kiện H(t2) < hoặc = max) H(pch) = H(t2)
Trong đó:
- H(t2) là hình phạt tổng hợp trong trường hợp đang chấp hành hình phạt mà phạm tội mới;
- H(tm) là hình phạt của tội mới;
- H(đang ch) là hình phạt đang chấp hành;
- H(đã ch) là hình phạt đã chấp hành;
- H(pch) là hình phạt còn lại phải tiếp tục chấp hành.
Nếu một người đang chấp hành một bản án lại phạm từ hai tội trở lên (phạm nhiều tội) thì Toà án tiến hành quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo trường hợp có nhiều bản án.
Thoạt tiên, chúng ta thấy hai trường hợp trên việc tổng hợp sẽ mang lại một kết quả, sao lại chia ra hai trường hợp. Tuy nhiên, hai trường hợp này là khác nhau. Điều đó xảy ra khi H(1), H(2) lớn hơn giá trị max. Ví dụ, cho H(đang ch) là 20 năm tù, H(tt) bằng với H(tm) là 20 năm tù, H(đã ch) là 10 năm tù. Khi thế các giá trị này vào công thức, ta được:
- H(1) = H(tt) + H(đang ch) = 20 + 20, (với điều kiện H(1) < hoặc = 30).
Như vậy, H(1) = 30 năm tù và hình phạt còn lại phải chấp hành là:
H(pch) = H(1) – H(đã ch) = 30 – 10 = 20 năm tù.
- H(2) = H(tm) + H(đang ch) – H(đã ch) = 20 + 20 – 10, (với điều kiện H(2) < hoặc = 30).
268
H(pch) = H(2) = 30 năm tù.
Chúng ta thấy rằng, hình phạt còn phải chấp hành trong hai tường hợp trên là khác nhau.
Người đang chấp hành hình phạt mà phạm tội mới rõ ràng là bất lợi hơn người đang chấp hành hình phạt mà bị xét xử về tội đã thực hiện trước đó. Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng người đang chấp hành hình phạt mà phạm tội mới thể hiện tính nguy hiểm cao hơn trường hợp còn lại vì đang chấp hành mà còn bất chấp pháp luật, phạm tội mới. Trong khi trường hợp còn lại, một người dù phạm tội nhưng chưa bị xét xử, nay lại phạm tội tiếp tục thì tính nguy hiểm có hạn chế hơn. Nhìn chung, cả hai đều thể hiện tính nguy hiểm cao trong khi thực hiện tội phạm.
CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ
1. Nêu khái niệm quyết định hình phạt?
2. Phân tích các nguyên tắc quyết định hình phạt?
3. Nêu các căn cứ quyết định hình phạt?
4. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật là như thế nào?
5. Phân tích nội dung quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đồng phạm?
6. Phân tích nội dung quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội?
7. Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án là gì?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần chung), Nxb TPHCM, TPHCM, 2000.
2. Đinh Văn Quế, Tội phạm và Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001.
3. Đinh Văn Quế, Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
6. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
7. Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994
8. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.
269