KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 204 - 213)

Mặc dù hình phạt luôn được con người biết đến như là một trong những công cụ chủ yếu nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm, tuy nhiên việc nhận thức về những vấn đề liên quan đến hình phạt trong khoa học hình sự cho đến bây giờ vẫn chưa được xem là đầy đủ và hoàn thiện. Vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệm hình phạt, cơ sở lý luận của hình phạt, mục đích hình phạt… Vì vậy, rất khó xác định khi nào hình phạt được nhận thức đúng với bản chất của nó, hoặc khi nào hình phạt được xem là đúng nghĩa của hình phạt.

Hình phạt chính là hậu quả xấu (gây đau đớn, mất mát cho con người) mà không ai trong chúng ta mong muốn sử dụng, hơn thế nữa là sử dụng một cách có ý thức và bắt buộc con người phải gánh chịu nó. Vì thế, để chấp nhận chúng như một công cụ của Nhà nước, chúng ta cần những lý lẽ biện minh rằng hình phạt vẫn cần thiết mặc dù bản chất nó có phần mang lại hậu quả xấu cho xã hội.

Mặc dù cơ sở lý luận của hình phạt là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý, tuy nhiên có rất ít các nhà lý luận đương thời trong nước quan tâm đến vấn đề này. Đây là vấn đề không phải mới so với các triết gia cổ kim trên thế giới, nhưng khá xa lạ so với các nhà luật học trong nước.

Trước hết chúng ta cũng cần làm rõ cơ sở của quyền trừng phạt (áp dụng hình phạt) của xã hội đối với kẻ phạm tội. Khi nói đến quyền trừng phạt của xã hội đối với tội nhân, ai cũng công nhận rằng đó là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, các quan điểm lại không thống nhất với nhau về căn nguyên của quyền này. Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở của sự hình thành quyền trừng phạt kẻ phạm tội dựa trên các học thuyết khác nhau.

Có người cho rằng, quyền trừng có nguồn gốc từ sự thoả thuận giữa những người đã tạo nên xã hội, nhằm giữ gìn trật tự xã hội, cái cốt yếu để giữ cho xã hội tồn tại. Quyền trừng phạt bắt nguồn từ quyền phục thù của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, khi gia nhập cộng đồng xã hội, cá nhân đã nhượng quyền này lại cho Nhà nước (xã hội). Mặt khác, mọi người trong xã hội đều hiểu rằng không thể chung sống với nhau mà thiếu luật (trong đó có luật hình sự) điều chỉnh. Mà đã có luật thì ắt phải có chế tài. Vì thế, mọi người đều chấp nhận cái “Khế ước xã hội” để cùng nhau tổ chức đời sống cộng đồng thì cũng đồng thời trao cho Nhà nước quyền trừng phạt những kẻ vi phạm các luật lệ do xã hội thoả thuận lập ra. Đây là lý luận dựa vào Học thuyết “Khế ước xã hội” và chủ nhân của nó là Hobbes Grotius, J.J. Roussean và Cesar Beccaria.107

Quan điểm của Học thuyết thực tiễn do Jeremy Bentham khởi xướng cho rằng muốn sinh tồn, xã hội cũng như mọi sinh vật đều phấn đấu cho sự sống. Tội phạm đe doạ sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứng một cách tự nhiên là trừng phạt người phạm tội. Có thể nói, trừng phạt trong trường hợp này là phương tiện tự vệ của xã hội chống lại các nguyên nhân đe doạ sự tồn tại của nó. Theo quan điểm này, xã hội có thể trừng phạt bất kỳ kẻ nào gây nguy hiểm cho sự an toàn của mỗi cá nhân trong xã hội cũng như sự an toàn của toàn xã hội. Bởi vì, kẻ phạm tội chính là kẻ thù chung của xã hội và chúng cần phải được làm vô hại và tránh để chúng thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngược lại xã hội loài người sẽ bị diệt vong. Mà tội phạm là một hiện tượng mang tính khách quan, vì thế quyền trừng phạt của xã hội cũng mang tính khách quan. Do đó, có thể nói, quyền trừng phạt của xã hội chính là sự thực thi một quy luật khách quan theo đó muốn sinh tồn xã hội phải trừng phạt kẻ phạm tội để loại bỏ các nguyên nhân gây phương hại đến nó.108

107 Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1973, tr.34.

108 Nguyễn Quang Quýnh, tr.35.

201

Quan điểm của những người theo Học thuyết luân lý cho rằng sở dĩ kẻ phạm tội phải bị trừng phạt là vì đòi hỏi của công lý: kẻ phạm tội phải đền tội. Quan điểm này gần giống với quan điểm của Học thuyết chiết trung. Những người theo Học thuyết chiết trung cho rằng quyền trừng phạt bắt nguồn từ lẽ công bằng. Một khi kẻ phạm tội đã gây ra tội phạm, để có sự công bằng thì kẻ phạm tội phải bị trừng phạt.109

Tóm lại, có thể nhận thấy rằng sở dĩ xã hội có quyền trừng phạt kẻ phạm tội là bởi vì kẻ phạm tội chính là nhân tố cản trở và phá hoại sự phát triển bình thường và sự tồn tại của xã hội, mục tiêu chung của tất cả các thành viên sống trong xã hội. Quyền trừng phạt kẻ phạm tội của xã hội là mang tính khách quan, phù hợp với đòi hỏi của công lý và công bằng. Phương tiện để thực hiện quyền trừng phạt đối với kẻ phạm tội là hình phạt. Về cơ sở của việc tồn tại hình phạt cũng là một vấn đề tranh cãi trong khoa học pháp lý hình sự dựa theo hai quan điểm truyền thống của hai học thuyết là: Học thuyết Trừng trị (Retributive doctrine) và Học thuyết Phòng ngừa (Deterrent doctrine) hay còn gọi là Học thuyết Vị lợi (Utilitarian doctrine).

Trong buổi đầu của sự hình thành pháp luật của nhân loại, sự đền bù bởi những hành vi sai trái được thực hiện thông qua việc bắt buộc kẻ có hành vi sai trái phải gánh chịu những hậu quả ngang bằng với những gì mà nạn nhân phải gánh chịu từ hành vi của anh ta. Khi đó, luật về sự trả thù ngang bằng (theo nguyên tắc lex talionis) chiếm ưu thế. Một trong số đó có thể kể đến là Bộ luật Hammurabi của Babylon.110 Theo Luật này, nếu một người đàn ông tấn công một phụ nữ (không phải là nữ nô lệ - free-born woman) có thai và dẫn đến người này chết, theo§210, con gái của kẻ tấn công phải bị xử chết. Hoặc, khi một người thợ xây nhà mà không cẩn thận khiến nhà sập làm chết con trai của chủ nhà, con trai của người thợ xây nhà cũng bị xử tội chết. Cũng theo Luật này, khi con bò đực hút chết một người (tự do, không phải nô lệ) mà người chủ đã biết việc này đã từng diễn ra, người chủ sẽ bị kết tội chết. Tuy nhiên, anh ta có thể chuột mạng bằng tiền như là một sự đền bù. Ý tưởng của các Bộ luật cổ của nhân loại như thế này được xem là nền tảng cho sự hình thành của Học thuyết Trừng trị.

Nội dung của Học thuyết Trừng trị có thể được mô phỏng qua câu ngạn ngữ “ăn miếng trả miếng” (an eye for an eye and a tooth for a tooth). Theo học thuyết này, nghĩa của từ “trừng trị” bao hàm nội dung là người phạm tội phải trả giá xứng đáng cho những gì mình đã gây ra. Con người nên được nhận những gì mà họ đáng được nhận. Chẳng hạn, một người lao động chăm chỉ xứng đáng được nhận trái ngọt từ thành quả lao động, một người vi phạm pháp luật đáng bị trừng phạt. Và, đó chính là cơ sở lý giải vì sao cần phải có hình phạt dành cho người phạm tội. Hơn nữa, mỗi cá nhân đều có sự tự do ý chí của mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã công nhận điều đó.111 Họ có quyền tự do lựa chọn để thực hiện hành vi, và họ xứng đáng bị đối xử giống như những gì mà họ tự do lựa chọn thực hiện.112 Nói cách khác, nếu hành vi của họ là tốt, họ sẽ có quyền đòi hỏi được đối xử tốt từ người khác và xã hội. Trừng trị có thể được xem là cơ sở tự nhiên của hình phạt xuất phát từ lý lẽ tự nhiên rằng kẻ xấu đáng nhận hình phạt và người tốt đáng nhận phần thưởng.

Như vậy, lý luận khởi nguồn cho việc sử dụng hình phạt, theo quan điểm trừng trị, là kẻ gây thiệt hại cho xã hội (người phạm tội) xứng đáng nhận hậu quả bị trừng phạt. Về quan điểm này, Immanuel Kant là người bảo vệ mạnh mẽ nhất. Ông cho rằng, mọi cá nhân trong xã hội đều được hưởng những lợi ích nhất định từ pháp luật mang lại. Theo nguyên tắc công bằng, một công dân tốt phải góp phần mình để duy trì hệ thống xã hội có sự chế ước lẫn nhau này. Cho nên, nếu một cá nhân chỉ biết tìm kiếm phần lợi về mình từ pháp luật mà không biết tự kiềm chế mình (hy sinh sự tự do cá nhân) thì có thể xem như là kẻ “ăn bánh không trả tiền”. Khi đó, anh ta tự mang lại cho mình một sự bất lợi, bởi vì Nhà nước cần ngăn chặn hành vi “ăn bánh không trả tiền” để duy trì trật tự pháp luật.113 Khi xảy ra hành vi sai trái, ở đó sẽ có một số người xứng đáng được hưởng các lợi ích nào đó sẽ bị mất nó, trong khi một số người khác không đáng được hưởng nó lại có nó. Hình phạt chính là sự loại bỏ các lợi ích không xứng đáng kia từ tay kẻ phạm tội nhằm tạo ra sự cân bằng.114 Những gì mà kẻ phạm tội phải gánh chịu giống như là món nợ mà hắn đã vay của một công dân khác lúc thực hiện hành vi phạm tội. Và, sự trừng trị trong trường hợp này nhằm mục đích phục hồi lại vị trí ban đầu của người bị hại và người phạm tội. Vì thế, có thể nói, Học thuyết Trừng trị mang bản chất là sự phục hồi

109 Nguyễn Quang Quýnh, tr.36.

110 Bộ luật thành văn cổ xưa nhất của nhân loại được sử dụng ở triều đại Hammurabi trị vì từ 1792-1750 TrCN. Bộ luật có 282 điều quy định về các lĩnh vực hình sự, hôn nhân gia đình, thương mại, tài sản, lao động…

111 Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 1991, tr.84-86.

112 Rachels, James, “Punhishment and Desert” in Ethics in Practice, ed. Hugh La Follette (Malden, Massachusetts: Blackwell Publisher, 1997), tr.466.

113 Murphy, Jeffrie G, Retribution Reconsidered, (Norwell, Massachusetts, Kluwer Academic Publisher, 1992), tr.23.

114 Cragg, Wesley, The Practice of Punishment: Towards a Theory of Restorative Justice (New York, Routledge, 1992), tr.15.

202

nguyên trạng của những giá trị xã hội. Hình phạt được áp dụng như là một sự trả lời đối với hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tăng cường pháp chế đã bị vi phạm và tạo sự cân bằng cho cán cân công lý.

Cho nên, người ta phải trở lại quá khứ để xem xét hành vi phạm tội đã thực hiện như thế nào, gây ra hậu quả như thế nào để trừng trị kẻ phạm tội.

Theo Học thuyết Trừng trị, hình phạt áp dụng chính là sự phản ứng của Nhà nước đối với người phạm tội vì người phạm tội đã gây ra thiệt hại cho xã hội. Tương tự như có một kẻ gây ra thương tích cho chúng ta, chúng ta lập tức đánh trả bằng cách nào đó làm cho kẻ đó phải gánh chịu những hậu quả (thương tích) như chính kẻ đó đã gây ra cho chúng ta. Cũng có thể nói, bằng cách này chúng ta dạy cho kẻ phạm tội một bài học để kẻ phạm tội cảm thấy chính xác những gì mà hắn đã gây ra cho nạn nhân. Vì thế, nếu không khéo, chúng ta rất dễ sa vào xu hướng trả thù người phạm tội. Trả thù, ở góc độ nào đó cũng có phần giống trừng trị, đó là sự trả lời lại đối với hành vi phạm tội, gây thiệt hại cho nạn nhân, một trong những biểu hiện về tính công bằng của cán cân công lý. Nhưng, trả thù là một biểu hiện trả đủa của cá nhân có bao hàm sự tức giận, mối căm hờn, cay cú và oán hận.

Những trạng thái xúc cảm đó tiềm tàng một khả năng tiêu cực. Bởi vì, những trạng thái xúc cảm mạnh mẽ đó thường dẫn đến những hành vi thái quá, nghĩa là sự trả thù vượt quá mức so với những gì mà kẻ gây ra đáng phải nhận. Hơn nữa, hình phạt nếu thiên về sự trả thù sẽ không thể thoả mãn nguyên tắc tương xứng. Đó là bởi vì, tính trả thù dẫn đến hình phạt có mức độ khác nhau tuỳ theo mức độ xúc cảm (tức giận) được tạo nên từ hành vi phạm tội. Hệ quả là nếu hành vi phạm tội không khơi lên sự tức giận sẽ không phải chịu hình phạt. Ngược lại, hành vi gây ra sự tức giận cao độ sẽ phải nhận lấy một sự phản ứng quá mức so với những gì mà hành vi phạm tội gây ra. Điều này sẽ rất nguy hiểm vì một sự bất công có thể là “động cơ thúc đẩy con người (lẽ ra rất hiền lành) tiến hành tàn sát lẫn nhau như anh ta đã từng chứng kiến trong quá khứ”.115 Từ đó, bạo lực và giết người hàng loạt có thể xảy ra khi con người đã không tin vào sự công bằng của công lý mà chỉ tin vào sức mạnh của cá nhân. Cho nên, cũng không lấy gì làm lạ khi sự trả thù ít khi mang lại cảm giác đền bù cho nạn nhân. Nạn nhân hầu như luôn trong trạng thái oán hận. Từ đó, cá nhân có xu hướng muốn gây thiệt hại cho kẻ đã gây ra thiệt hại cho mình, thậm chí hơn cả những gì mà kẻ đó đã gây ra. Khi đó, chúng ta rất khó để chấm dứt cái vòng lẩn quẩn của sự trả thù càng leo thang. Vì thế, có thể nói hình phạt mang tính trả thù không mang lại một giá trị bảo an nào cho xã hội, ngược lại càng làm gia tăng sự thiệt hại cho xã hội.

Hơn thế nữa, trong một xã hội có sự leo thang bạo lực như thế sẽ không có chỗ của sự nhân đạo. Trên nền tảng đó, chúng ta tin rằng, “nạn nhân không nên theo đuổi sự trả thù để rồi trở thành nạn nhân mới mà nên tha thứ cho kẻ phạm tội và chấm dứt vòng phạm tội”. Tuy nhiên, sự tha thứ của nạn nhân không có nghĩa là kẻ phạm tội không bị pháp luật lên án, ngược lại kẻ phạm tội vẫn phải gánh chịu những gì mà họ đáng phải nhận. Do đó, hình phạt theo nội dung của Học thuyết Trừng trị có thể được hiểu là sự trả lời (trả đủa) của Nhà nước đối với người có hành vi phạm tội đã gây thiệt hại cho xã hội.

Các quan điểm ủng hộ chủ nghĩa trừng trị chủ yếu dựa vào các lý do sau đây:

+ Người phạm tội là những người được hưởng các lợi ích trong xã hội khi không phải trả giá cho việc hưởng các lợi ích đó. Trong khi đó, có những người đã phải hy sinh để đạt được các lợi ích đó và thực tế họ xứng đáng được nhận thì lại bị người phạm tội tước đoạt. Điều này trái với quy luật xã hội. Hình phạt, theo nội dung trừng trị khi đó là yếu tố phục hồi lại trạng thái cân bằng của xã hội khi buộc người phạm tội phải trả giá cho hành vi “thụ đắc vô căn” của mình. Điều đó cũng phù hợp với đạo lý và công lý.

+ Hình phạt với nghĩa trừng trị sẽ tránh được tình trạng nạn nhân cay cú vì muốn trả thù cá nhân và muốn sử dụng luật giang hồ cho mục đích trả thù của mình. Bởi vì, nạn nhân khi đó cảm thấy kẻ gây thiệt hại cho mình đã bị Nhà nước thay mình “trả thù”. Nếu để tình trạng trả thù cá nhân, hậu quả của nó có khi vượt quá hoặc không phù hợp so với những gì mà kẻ phạm tội đáng nhận (so với tội phạm đã gây ra) vì sự trả thù cá nhân phụ thuộc vào các trạng thái tâm lý đặc biệt của nạn nhân. Vì thế, để được chấp nhận, công lý về sự trừng trị trong khi buộc kẻ phạm tội phải “trả giá” cho những gì mình làm phải đảm bảo không thiên về hướng trả thù nguyên thuỷ. Công lý của sự trừng trị đòi hỏi hình phạt phải phù hợp với thiệt hại do tội phạm gây ra, và kẻ phạm tội phải bị đối xử giống như những gì anh ta đã làm. Kẻ phạm tội xứng đáng bị lên án và chịu mức hình phạt tương xứng với mức độ thiệt hại mà y đã gây ra cho xã hội. Ở chừng mực nào đó, công lý trừng trị cũng giống như sự trả thù nhưng không phải của cá nhân mà của Nhà nước theo nguyên tắc tương xứng. Thật vậy, để tránh

115 Minow, Martha, Between Vengeane and Forgiveness, (Boston, Massachusetts: Beacon Press, 1998), tr.11.

203

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 204 - 213)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)