PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
BÀI 16: CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG LUẬT HÌNH SỰ
III. MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ, MIỄN HÌNH PHẠT
1. Miễn trách nhiệm hình sự
a) Khái niệm:
Để quy định một hành vi nào đó là tội phạm, nhà làm luật bao giờ cũng xuất phát từ việc xem xét hành vi đó đã nguy hiểm như thế nào cho xã hội và cũng chỉ có những hành vi thật sự nguy hiểm cho giai cấp thống trị, của xã hội mới được Nhà nước quy định là tội phạm. Như vậy, nhà làm luật đã lấy tính nguy hiểm cho xã hội làm tiêu chuẩn xác định những hành vi cần thiết phải quy định là tội phạm phải được xử lý bằng các biện pháp hình sự. Từ nguyên lý trên có thể nhận xét các chế định của pháp luật hình sự được xây dựng và áp dụng trong sự chi phối có tính chất quyết định bởi tính nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính tất yếu của tội phạm. Nó quyết định cho việc xác định tội phạm xảy ra hay không, bởi lẽ tội phạm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý do người phạm tội phải chịu trước Nhà nước. Trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc người phạm tội bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau như bị truy tố, khởi tố, điều tra, các biện pháp tư pháp, hình phạt. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải tất cả các tội phạm cũng như các trường hợp phạm tội đều giống nhau. Có tội phạm ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Có người phạm tội này và người phạm tội kia. Chính vì vậy, để cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đạt kết quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, luật hình sự đồng thời cũng phân hoá các trường hợp phạm tội. Sự phân hoá thể hiện ở đường lối xử lý đối với người phạm tội. Người phạm tội lần đầu khác với người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội ít nghiêm trọng khác với người phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, người có công trong việc giúp đỡ các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như trong việc khắc phục hậu quả của tội phạm gây ra khác với người phạm tội với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng… Ngoài ra, sự phân hoá người phạm tội và các trường hợp phạm tội trong luật hình sự còn thể hiện ở chỗ không phải tất cả người phạm tội, tất cả các trường hợp phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi có những điều kiện, căn cứ nhất định, một người đã phạm tội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự, được miễn trách nhiệm hình sự.
Vấn đề này đã được Luật hình sự Việt Nam xưa nay và Luật hình sự của các nước trên thế giới thừa nhận xuất phát từ tính tích cực của nó. Điều 18 chương Danh lệ của Quốc triều hình luật quy định: “Phàm phạm tội chưa bị phát giác mà tự thú trước thì được tha tội. Phạm tội nhẹ đã bị phát giác mà lại thú cả tội nặng nữa, nhân hỏi về tội đương xét mà thú thêm các tội khác nữa thì được tha cả mọi tội”. Điều 20 quy định: “Phàm làm việc có sai sót mà biết tự thú thì được miễn tội...”. Bộ hình luật Việt nam cộng hoà 1972 tuy không quy định khái quát những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt nhưng trong một số điều (Điều 78,79,80...) đã thể hiện được rằng, đối với
277
hành vi phạm tội trong nội bộ gia đình “thuộc trực hệ” thì được “đặc miễn” và nếu can phạm tố cáo rõ với “nhà chức trách” về tội phạm mình tham gia thì có thể được miễn hình phạt.
Luật hình sự của hầu hết các nước trên thế giới cũng thừa nhận trường hợp này. Bộ luật hình sự Thuỵ Điển có quy định, Toà án có thể miễn hình phạt cho bị cáo nếu xét thấy việc áp dụng hình phạt là không “hợp lý” (Điều 6 chương 29). Bộ luật hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cũng quy định có thể giảm hoặc miễn hình phạt cho bị cáo nếu bị cáo biết “tự thú và lập công chuộc tội” (Điều 3 chương IV). Bộ luật hình sự Liên bang Nga (1996) quy định rất rõ về vấn đề này tại chương 11 và 12.
Theo đó, người tự thú, người tự hoà giải với bị hại, do tình hình chuyển biến mà tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội không còn thì được miễn trách nhiệm hình sự. Người phạm tội mắc bệnh sẽ được miễn hình phạt.Theo pháp luật hình sự Vương Quốc Anh, có bốn dạng miễn trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội đã chết, người bị hại đã hoà giải với người phạm tội; người phạm tội đã được ân xá và hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự là chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, nó thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta. Áp dụng chế định này đối với người phạm tội khi có đủ các điều kiện luật định tạo cho họ khả năng và điều kiện tự cải tạo, giáo dục đồng thời động viên, lôi kéo quần chúng nhân dân tham gia vào công việc giáo dục, quản lý người phạm tội.
Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà người đó đã thực hiện.
Miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn khác với trường hợp không có trách nhiệm hình sự. Người được miễn trách nhiệm hình sự tức là người đã phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Còn người không có trách nhiệm hình sự là người mà hành vi của họ không có sự sai trái hoặc hành vi của họ tuy có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng mức độ nguy hiểm không lớn nên không coi là tội phạm mà chỉ đáng xử lý về hành chính. Miễn trách nhiệm hình sự có một số đặc điểm sau:
- Miễn trách nhiệm hình sự là sự phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nói riêng trong một Nhà nước.
- Miễn trách nhiệm hình sự, hay nói cách khác là sự xoá bỏ hoàn toàn hậu quả pháp lý của việc thực hiện một tội phạm chỉ có thể được đặt ra đối với người nào là chủ thể của chính tội phạm ấy, mà lẽ ra nếu không có đủ căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
Tuy trong pháp luật hình sự không quy định nhưng thực tiễn cho thấy người được miễn trách nhiệm hình sự tuy không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự của hành vi phạm tội do mình thực hiện (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác và không bị coi là có án tích), nhưng căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác. Ví dụ, các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại,…v.v.., theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính; đình chỉ hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc biện pháp kỷ luật.
- Phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền nhất định (cơ quan Điều 278
tra với sự phê chuẩn của viện kiểm sát hoặc Toà án) khi có đủ căn cứ (hoặc là bắt buộc hoặc là tuỳ nghi) do pháp luật hình sự quy định.
b) Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cụ thể:
b1) Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của phần chung Bộ luật hình sự:
Điều 25 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành cũng quy định:
“1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng được miễn trách nhiệm hình sự.
3. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá”.
- Sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Tình tiết này được hiểu là tội phạm đã được thực hiện trong một điều kiện, hoàn cảnh khác so với điều kiện hoàn cảnh vào thời điểm điều tra, truy tố, xét xử. Chính sự thay đổi đó đã làm cho hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội.
Tội phạm là một hiện tượng xã hội nên nó cũng có tính lịch sử, vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội do yêu cầu của xã hội và các quy định của pháp luật thì hành vi đó phải cần xử lý bằng biện pháp hình sự, nhưng sau đó khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng của mình để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội thì tình hình xã hội đã thay đổi, Nhà nước thấy không cần phải xử lý người có hành vi phạm tội trước đó bằng biện pháp hình sự nữa, sự chuyển biến của tình hình là sự chuyển biến của tất cả các mặt của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật,v.v..
Tuy nhiên, khi xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội không còn nữa thì phải xem xét hành vi phạm tội có xâm hại đến quan hệ xã hội nào và quan hệ xã hội đó có chuyển biến làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm nữa không? Ở đây sự chuyển biến của tình hình đã là nguyên nhân làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm nữa. Ví dụ, trước đây ai tàng trữ, mua bán vàng, bạc dù đó là vàng, bạc thuộc sở hữu của mình đều bị coi là hành vi phạm tội tàng trữ, mua bán hàng cấm, nhưng từ khi Nhà nước có chủ trương cho phép tư nhân được kinh doanh vàng, bạc không bị coi là hành vi phạm tội tàng trữ mua bán hàng cấm nữa, nếu người có hành vi mua bán vàng, bạc trước khi Nhà nước có chủ trương cho mua bán mới bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử thì tuỳ vào giai đoạn tố tụng quyết định miễn truy cứu hình sự cho người phạm tội.
Căn cứ để xác định do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa là những quy định của Nhà nước có liên quan đến hành vi phạm tội, các quy định này nhất thiết phải bằng văn bản có tính pháp quy, bao gồm: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Quyết định, Nghị quyết của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ, các 279
thông tư hướng dẫn của các bộ hoặc các cơ quan ngang bộ và trong một số trường hợp có thể là Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc của Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, nếu các quyết định này không trái với Hiến pháp và pháp luật. Nếu sự chuyển biến của tình hình và tình hình đó tuy có liên quan đến tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã xảy ra nhưng chưa được Nhà nước quy định thì người có hành vi phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự như các trường hợp phạm tội khác.
- Do sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Do sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa phải được hiểu rằng bản thân người phạm tội không có sự biến đổi nào, khi phạm tội họ là người như thế nào thì nay vẫn như vậy nhưng do tình hình xã hội thay đổi nên họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, chính là do tình hình thay đổi chứ không phải do nỗ lực của bản thân họ. Ví dụ, trong thời kỳ chiến tranh do nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nên huy động cả người có hành vi phạm tội nhưng chưa bị xử lý, vào các đơn vị phục vụ chiến đấu như cứu thương, tải đạn. Do tình hình này mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa nên họ được các cơ quan tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự để họ thực hiện nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho. Trong điều kiện đất nước không còn chiến tranh, nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu có thể không thường xuyên xảy ra nhưng như vậy không có nghĩa là việc sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu bị lơ là. Ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đất nước ta còn thường xuyên xảy ra thiên tai (bão lụt, hoả hoạn…) việc huy động sức người, sức của cũng đòi hỏi phải cấp thiết với tinh thần chống thiên tai như chống địch hoạ. Những người tuy đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì tình hình lũ lụt xảy ra, họ được huy động thực hiện nhiệm vụ cứu người, cứu của, nên việc miễn trách nhiệm hình sự đối với họ không chỉ nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ cấp bách và với tình hình xã hội thay đổi, họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Cũng được coi là do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa trong trường hợp người phạm tội thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt mà thiếu họ thì nhiệm vụ đó khó hoàn thành nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã miễn trách nhiệm hình sự để họ nhận nhiệm vụ đặc biệt đó.
Do sự chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa về lý luận cũng như thực tiễn tuy có một số trường hợp khó xác định nhưng không khó bằng trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng rất ít áp dụng trường hợp này để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.
Cũng có ý kiến cho rằng, khi phạm tội họ là người nguy hiểm cho xã hội, nhưng sau đó họ trở thành người tốt, có ích cho xã hội và xã hội rất cần họ thì nên coi là do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa để miễn trách nhiệm hình sự cho họ, như vậy theo ý kiến này thì tình hình chuyển biến ở đây lại chính là sự biến đổi cá nhân của người phạm tội chứ không phải là tình hình của xã hội.
Ví dụ, một cán bộ phạm tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa nhưng trong quá trình điều tra vụ án người cán bộ này đã có một sáng kiến lớn trong sản xuất đem lại hiệu quả cao làm lợi cho Nhà nước hàng tỷ đồng.
280
Cách đặt vấn đề theo quan điểm này rõ ràng là không phân biệt tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời đồng nhất giữa yếu tố khách quan với yếu tố chủ quan (sự nỗ lực của con người, sự ăn năn hối cải sau khi phạm tội, cũng như hành vi lập công chuộc tội… ). Chính do không nắm chắc yếu tố này nên trong thực tiễn có nhiều người lầm tưởng sự nỗ lực của bản thân người phạm tội nên họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và đã miễn trách nhiệm hình sự cho họ.
- Người phạm tội tự thú.
Tự thú có nghĩa là: Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự mình khai ra hành vi phạm tội của bản thân với người đại diện của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đây là sự biểu hiện ăn năn hối cải của người đó về việc mình đã thực hiện hành vi phạm tội, nên xứng đáng được hưởng sự khoan hồng – có thể miễn trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào thông tư liên ngành số: 05/TTLN ngày 02/ 6/1990 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người tự thú đã quy định, người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt; nếu cùng với việc tự thú mà còn lập công lớn, vận động được nhiều người khác đã phạm tội ra tự thú thì có thể được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
Để được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội ra tự thú phải thoả mãn các điều kiện sau:
+ Tội phạm mà người tự thú đã thực hiện chưa bị phát giác, tức là chưa ai biết có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm;
Ví dụ, Phạm Thanh H thấy gia đình nhà anh Trần Quốc K không có ai ở nhà nên đã cậy cửa vào nhà lấy đi một chiếc tivi màu. Sau hai tháng vụ trộm cắp này chưa tìm ra thủ phạm thì H đã đến Cơ quan công an khai rõ hành vi phạm tội của mình và đem trả cho gia đình anh K chiếc tivi màu mà H đã lấy trộm. Do đó H có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
+ Người tự thú phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm. Tức là khai đầy đủ tất cả hành vi phạm tội của mình cũng như hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác, không giấu giếm bất cứ một tình tiết nào của vụ án, đồng thời giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm như: chỉ nơi ở của đồng phạm hoặc dẫn cơ quan điều tra đi bắt người đồng phạm đang bỏ trốn, thu thập các dấu vết của tội phạm, thu hồi tang vật,…v.v…Nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì không được coi là thoả mãn căn cứ này để miễn trách nhiệm hình sự.
Ví dụ, Mai Ngọc T nhận làm gián điệp cho nước ngoài, T đã cung cấp nhiều tài liệu bí mật Nhà nước cho nước ngoài trong một thời gian bảy năm thì T ra tự thú với Cơ quan an ninh điều tra, nhưng T chỉ khai làm gián điệp cho nước ngoài bốn năm và đã chấm dứt việc làm gián điệp; nhiều tài liệu bí mật Nhà nước, T cung cấp cho nước ngoài, T không khai đầy đủ. Như vậy T không được miễn trách nhiệm hình sự vì khai báo không đầy đủ với cơ quan chức năng
281