PHÂN LOẠI TỘI PHẠM

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 84 - 89)

1. Lịch sử hình thành của chế định phân loại tội phạm ở Việt Nam

Tội phạm tuy có chung bốn dấu hiệu nhưng trên thực tế, tội phạm diễn ra rất đa dạng và phong phú về nguyên nhân, điều kiện phát sinh, tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính nguy hiểm do hậu quả của hành vi xâm hại gây ra...Chính vì thế, vấn đề cần thiết đặt ra là phải phân chia tội phạm ra thành những nhóm khác nhau để thuận lợi cho việc xử lý.

Pháp luật phong kiến Việt Nam tuy chưa có cái nhìn khái quát về tội phạm nhưng ở mức độ nào đó, nhà làm luật cũng có ý thức phân chia tội phạm thành những nhóm khác nhau dựa vào khách thể của tội phạm, hình thức lỗi, chủ thể của tội phạm, giới tính...Có thể làm rõ nội dung này qua việc xem xét các quy định về tội phạm trong Bộ luật Hồng Đức.

Kể từ sau cách mạng tháng Tám 1945, trong các văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tội phạm được phân chia thành hai nhóm khác nhau dựa vào thẩm quyền xét xử của toà án đối với từng loại tội phạm nhất định - toà án quân sự và toà án hình sự thường. Bên cạnh đó, quan điểm của một số nhà lý luận Luật hình sự thời bấy giờ còn có khuynh hướng phân loại tội phạm thành ba nhóm: trọng tội (tội nặng), khinh tội (tội nhẹ) và vi cảnh (vi cảnh ở đây được xem là khái niệm của một loại tội phạm và phải chịu một trong hai loại chế tài là giam - từ 1 ngày đến 10 ngày hoặc phạt vạ - tiền- từ 200$

đến 600$).

Do những hạn chế có tính lịch sử mà nước ta trong thời kỳ này không đặt nặng vấn đề phân loại tội phạm ở góc độ lập pháp. Vì thế, hoạt động áp dụng pháp luật phải tự tìm ra cho mình những cơ sở cần thiết cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự. Trong hoạt động xét xử, tội phạm được phân ra thành hai nhóm là trọng tội và khinh tội. Nhưng cơ sở của sự phân biệt này là mức án mà toà án tuyên cho từng tội phạm cụ thể mặc dù để áp dụng chế tài cho từng trường hợp này, toà án phải căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Điều này đã mở đường cho sự tuỳ tiện trong hoạt động áp dụng pháp luật.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự được ban hành thể hiện rõ quan điểm mới trong vấn đề phân loại tội phạm. Theo quy định của các văn bản này, tội phạm được phân chia thành ba nhóm: các tội phản cách mạng (Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 và Sắc luật 03/SL ngày 15/3/1976), các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế (Sắc luật 03/SL ngày 15/3/1976) và tội phạm thường.

Việc phân loại này chủ yếu dựa vào khách thể bị hành vi phạm tội xâm hại.

Nói chung, trước khi Nhà nước ta ban hành Bộ luật hình sự 1985, việc phân loại tội phạm vẫn chưa trở thành một chế định của pháp luật mà chỉ được tiến hành trong lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Sự phân loại tội phạm chủ yếu nhằm phân hoá trách nhiệm hình sự trên cơ sở một vài dấu hiệu biểu hiện bản chất giai cấp của tội phạm trong đó quan trọng nhất là khách thể bị xâm hại.

81

Bộ luật hình sự 1985 được ban hành là sự kiện ghi nhận thành tựu và cố gắng vượt bậc của công tác lập pháp ở nước ta. Lần đầu tiên, việc phân loại tội phạm đã trở thành một chế định của pháp luật - được thừa nhận về mặt lập pháp. Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, tội phạm được phân chia thành hai nhóm: tội phạm nghiêm trọng tội phạm ít nghiêm trọng (khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985).

Không dừng lại ở đó, Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời đã sửa đổi chế định phân loại tội phạm. Thực trạng hiện tại, tội phạm chỉ được phân chia thành hai nhóm, sự chênh lệch như vậy là quá lớn. Nhiều tội phạm có mức hình phạt từ năm năm tù trở xuống nhưng lại bao gồm các tội phạm có tính nguy hiểm cao (chẳng hạn, tội phạm quy định tại Điều 104, 112...Bộ luật hình sự năm 1985) có cùng chính sách xử lý nên không được dư luận đồng tình. Mặt khác, các tội phạm nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình lại cũng có chính sách xử lý gần giống nhau (theo Bộ luật hình sự năm 1985) là không đảm bảo nguyên tắc công bằng và nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự.

Theo xu hướng đó, tội phạm được chia thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điểm sửa đổi này của Bộ luật hình sự mới là hết sức cần thiết trong tình hình mới nhằm tạo cơ sở cho việc thực hiện triệt để nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự, bởi vì chế định phân loại tội phạm được sửa đổi sẽ tạo cơ sở cho việc hoàn thiện nhiều quy định thuộc phần chung khác của Bộ luật hình sự (quy định về nguyên tắc xử lý hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, điều kiện áp dụng từng loại hình phạt...). Ngoài ra, phân loại tội phạm thành bốn loại còn tạo cơ sở xây dựng cấu thành tội phạm thành nhiều khung. Đồng thời, nó cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (chế định tạm giam, xét xử theo thủ tục rút gọn...).

2. Các căn cứ phân loại tội phạm theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

a. Phân loại tội phạm theo các căn cứ thuộc yếu tố chủ quan

* Phân loại tội phạm dựa vào hình thức lỗi, tội phạm được chia thành 2 loại:

- Tội phạm có lỗi cố ý. Ví dụ, tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự), tội trộm cắp tài sản ( Điều 138 Bộ luật hình sự)...v.v...

- Tội phạm có lỗi vô ý. Ví dụ, tội vô ý làm chết người (Điều 98 Bộ luật hình sự), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 Bộ luật hình sự)...v.v...

* Phân loại tội phạm dựa vào mục đích hoặc động cơ của tội phạm, tội phạm được chia thành 2 loại:

82

- Những tội phạm không có dấu hiệu động cơ/mục đích là dấu hiệu bắt buộc. Chẳng hạn, tội cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ luật hình sự), tội gây rối trật tự công cộng (Điều 245 Bộ luật hình sự)…v.v…

- Những tội phạm có dấu hiệu mục đích/động cơ là dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 Bộ luật hình sự) bắt buộc phải có mục đích “chống chính quyền nhân dân”, tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 167 Bộ luật hình sự) bắt buộc dấu hiệu động cơ trong cấu thành tội phạm là động cơ “vụ lợi” hoặc động cơ “khác”.

* Phân loại tội phạm dựa vào chủ thể của tội phạm, tội phạm được chia thành 2 loại:

- Tội phạm được thực hiện bởi chủ thể thường thực hiện. Chẳng hạn, tội trộm cắp tài sản (Điều 138 Bộ luật hình sự), tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự)…chỉ cần chủ thể có đủ NLTNHS.

- Tội phạm được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt. Ví dụ, tội tham ô tài sản (Điều 278 Bộ luật hình sự) đòi hỏi chủ thể phải có “chức vụ, quyền hạn”; tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 Bộ luật hình sự) đòi hỏi chủ thể phải là người “đủ 18 tuổi”…v.v…

b. Phân loại tội phạm theo các căn cứ thuộc yếu tố khách quan

* Phân loại tội phạm theo khách thể của tội phạm: tội phạm được phân chia thành 14 nhóm tương ứng với 14 chương của phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

* Phân loại tội phạm theo tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm: tội phạm được chia thành bốn nhóm là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 2 và 3 Điều 8 Bộ luật hình sự).

3. Phân loại tội phạm theo khoản 2 và 3 Điều 8 Bộ luật hình sự

Phân loại tội phạm dựa vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là hình thức phân loại tội phạm được quy định và áp dụng phổ biến nhất trong Luật hình sự của các nước.

Trong Luật hình sự Việt Nam, hình thức phân loại này là hình thức phân loại cơ bản và quan trọng nhất. Cần nhấn mạnh rằng, quan điểm phân loại tội phạm dựa vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một quan điểm đúng đắn. Thực ra, phân loại tội phạm được thực hiện dựa trên nhiều căn cứ tuỳ thuộc vào mục đích của việc phân loại. Nhưng dù dựa trên bất kỳ căn cứ nào cũng phải xuất phát từ những thuộc tính vốn có của tội phạm. Nếu áp đặt một tiêu chí bên ngoài theo ý chí chủ quan thì việc phân loại tội phạm sẽ mất đi tính khách quan và trở nên vô nghĩa. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một thuộc tính cơ bản quan trọng nhất của tội phạm có sự kết hợp giữa các yếu tố khách quan và chủ quan liên hệ với nhau, quyết định bản chất của mọi tội phạm – tính nguy hại cho xã hội. Phân loại tội phạm dựa vào tiêu chí này là cơ sở cho việc phân hoá và cá thể hoá trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và người phạm tội. Những cách phân loại khác (dựa theo tiêu chí chủ quan, khách thể 83

bị xâm hại…) dù ở khía cạnh nào đó cũng là cơ sở để phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt nhưng sự phân hoá không thể triệt để và đầy đủ được.

Trên cơ sở lý luận đó, khoản 2 và 3 Điều 8 Bộ luật hình sự đã chia tội phạm thành bốn nhóm:

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù.

Ví dụ, tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125 Bộ luật hình sự) là tội phạm ít nghiêm trọng.

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù.

Chẳng hạn, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự) là tội phạm nghiêm trọng.

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù.

Chẳng hạn, tội ra quyết định trái pháp luật (khoản 3 Điều 296 Bộ luật hình sự) là tội phạm rất nghiêm trọng.

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trong là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Ví dụ, tội gián điệp (khoản 1 Điều 80 Bộ luật hình sự) là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Cần nói thêm, phân loại tội phạm thành bốn nhóm như trên là hình thức phân loại tội phạm dựa vào nội dung chính trị - xã hội của tội phạm. Quan điểm cho rằng, việc phân loại này dựa trên cả hai dấu hiệu nội dung và hậu quả pháp lý là chưa thoả đáng. Bởi vì, căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, thuộc tính khách quan của tội phạm nhà làm luật sẽ quy định chế tài (loại, và mức hình phạt) cho mỗi loại tội phạm cụ thể, còn loại và mức hình phạt là đại lượng pháp lý đo lường tính nguy hiểm đó. Người áp dụng sẽ thông qua đại lượng đo lường này để nhận biết đâu là tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng... Về bản chất, để phân chia thành tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng, nhà làm luật vẫn phải dựa vào căn cứ duy nhất là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Vì vậy, một tội phạm có thể đồng thời là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điều này xuất phát từ thực tế là hành vi phạm tội khi đã thoả mãn cấu thành tội phạm cơ bản thì tính nguy hiểm chỉ ở mức ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi tội phạm đó kèm theo một số tình tiết định khung tăng nặng thì tính nguy hiểm cho xã hội của nó tăng lên đến mức nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Chẳng hạn, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104 Bộ luật hình sự), tại khoản 1 là tội phạm ít nghiêm trọng, khoản 2 là tội phạm nghiêm trọng, khoản 3 là tội phạm rất nghiêm trọng và khoản 4 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

84

4. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm theo khoản 2 và 3 Điều 8 Bộ Luật hình sự

a. Ý nghĩa lý luận

Chính sách hình sự của Nhà nước ta là chính sách đấu tranh phòng chống tội phạm.

Chính sách này chỉ mang lại hiệu quả, phục vụ tích cực cho công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm khi chúng được xây dựng xuất phát từ thực tế đa dạng, phong phú của tội phạm và tình hình phạm tội. Phân loại tội phạm là cơ sở để xác định và xây dựng các biện pháp pháp lý hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, xác định chính sách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể (chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội - chương X Bộ luật hình sự, chính sách xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội - Điều 17 Bộ luật hình sự...v.v...). Mặt khác, phân loại tội phạm cũng có vai trò quan trọng trong việc triển khai chính sách hình sự thông qua sự nhận thức và phản ứng của Nhà nước đối với các tội có tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì có biện pháp xử lý khác nhau. Nó chi phối hầu hết các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự về tội phạm, hình phạt, thẩm quyền điều tra, xét xử...v.v…

Trong hoạt động lập pháp, phân loại tội phạm là cơ sở để xây dựng các chế định về tội phạm và hình phạt, là cơ sở thống nhất để xây dựng các khung hình phạt cho các tội phạm cụ thể.

Ngoài ra, phân loại tội phạm còn là cơ sở xác định đường lối đấu tranh đối với các loại tội phạm khác nhau cũng như các ngành luật có liên quan về các quy định thể hiện sự phân hoá trách nhiệm hình sự. Xuất phát từ sự đa dạng và phong phú về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, mà yêu cầu phân hoá trách nhiệm hình sự được đặt ra và trở thành nguyên tắc của Luật hình sự. Phân loại tội phạm thành các nhóm khác nhau là biểu hiện của sự phân hoá trách nhiệm hình sự ở góc độ lập pháp. Bên cạnh đó, nghiên cứu chế định phân loại tội phạm trong mối quan hệ thống nhất các chế định khác sẽ tạo tiền đề cho việc nhận thức đúng bản chất của tội phạm, đánh giá đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là cơ sở để hoàn thiện pháp luật hình sự.

b. Ý nghĩa thực tiễn

Phân loại tội phạm thành bốn nhóm có ý nghĩa trước hết đối với việc áp dụng nhiều quy phạm phần chung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự, như: chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chế định các giai đoạn phạm tội, chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự… Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật hiện hành, những người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội họ chuẩn bị phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 17 Bộ luật hình sự), người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 12 Bộ luật hình sự); “phạm tội để người bị giam, giữ về một tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm” (khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự)...v.v...

85

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 84 - 89)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)