NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 306 - 311)

PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

BÀI 17: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

III. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1. Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Về nguyên tắc, khi người chưa thành niên phạm tội, phải hạn chế việc đưa họ ra xét xử và áp dụng hình phạt. Đối với những trường hợp cần thiết phải đưa người chưa thành niên phạm tội ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ thì Toà án chỉ được áp dụng một trong các hình phạt quy định tại Điều 71 Bộ luật hình sự. Các hình phạt đó là:

- Cảnh cáo.

Trong hệ thống hình phạt quy định đối với người chưa thành niên phạm tội thì cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất. Với việc khiển trách người chưa thành niên bị kết án một cách công khai trước Toà án, cảnh cáo có khả năng tác động một cách mạnh mẽ đến ý thức của họ, giáo dục và răn đe họ không phạm tội mới, để đạt được mục đích hình phạt. Tuy nhiên do tính ít nghiêm khắc của cảnh cáo, hình phạt này thường được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội gây hậu quả không lớn, nhân thân tương đối tốt, có những tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

303

- Phạt tiền.

Hình phạt tiền chỉ được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội với tư cách là hình phạt chính. Đồng thời không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi (Điều 72):

+ Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; hoặc

+ Đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không có tài sản riêng hoặc thu nhập riêng.

Mức phạt tiền áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội không quá 1/2 mức hình phạt tiền do điều luật quy định.

- Cải tạo không giam giữ.

Mức hình phạt cải tạo không giam giữ không quá 1,5 năm (không quá 1/2 mức hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định). Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của họ (Điều 73).

- Tù có thời hạn.

Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội cần tuân thủ những quy định sau (Điều 73):

- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định (Điều 74 Bộ luật hình sự).

[14, 16)*

Max: chung thân, tử hình

Max: 20 năm tù Max (*): 1/2 Max

Chú thích: - Max: mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội mà người chưa thành niên phạm.

- Max (*): mức hình phạt cao nhất có thể quyết định đối với người từ đủ 14 đến dưới 16.

Max(*): 12 năm tù

- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

304

[16, 18)**

Max: chung thân, tử hình

Max: 20 năm tù Max (**): 3/4 Max

Chú thích: - Max: mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội mà người chưa thành niên phạm.

- Max (**): mức hình phạt cao nhất có thể quyết định đối với người từ đủ 16 đến dưới 18.

Max(**): 18 năm tù

Những quy định nêu trên cụ thể hoá một nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội là khi Toà án áp dụng hình phạt tù có thời hạn như một biện pháp cuối thì cũng cho họ hưởng mức án nhẹ hơn mức án đối với người đã thành niên phạm tội.

2. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án có thể áp dụng các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa. Các biện pháp đó là (Điều 70 Bộ luật hình sự):

- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Đưa vào trường giáo dưỡng.

Tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người chưa thành niên phạm tội, cũng như yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm mà Toà án có thể áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên phạm tội. Người chưa thành niên phạm tội được áp dụng các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự thì không bị coi là có án tích.

3. Tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Việc tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ngoài việc căn cứ vào các quy định tại Điều 50, 51 Bộ luật hình sự, Toà án còn phải tuân thủ các quy định riêng đối người chưa thành niên phạm tội (Điều 74, 75 Bộ luật hình sự). Cụ thể, có hai vấn đề cần quan tâm khi tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Đó là:

- Thứ nhất, hình phạt chung cao nhất:

+ Đối với hình phạt tù, hình phạt chung cao nhất đối với người chưa thành niên phạm tội từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là 18 năm tù, từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là 12 năm tù.

305

+ Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt chung cao nhất đối với người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi là 1,5 năm.

- Thứ hai, trường hợp người phạm nhiều tội, có tội phạm thực hiện khi chưa đủ 18 tuổi, có tội phạm khi thực hiện khi đã đủ 18 tuổi thì:

+ Nếu tội phạm nặng nhất được thực hiện khi người đó đủ 18 tuổi thì áp dụng như người đã thành niên. Tức là, mức hình phạt chung cao nhất đối với hình phạt tù là 30 năm;

cải tạo không giam giữ là 3 năm.

+ Nếu tội phạm nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì áp dụng như người chưa thành niên. Tức là mức hình phạt chung cao nhất đối với hình phạt tù là 12 năm (đối với người chưa thành niên [14, 16)), 18 năm (đối với người chưa thành niên [16, 18)).

4. Miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999)

Khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự quy định: “người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng gây hậu quả không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục”.

Đây là dạng miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tuỳ nghi đối với tất cả các cơ quan tư pháp hình sự khi có cơ sở cho thấy người chưa thành niên có đầy đủ các căn cứ pháp lý như:

- Người chưa thành niên phạm vào tội ít nghiêm trọng (tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù), hoặc tội phạm nghiêm trọng (tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù) song gây hại không lớn cho xã hội. Nếu phạm vào tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì không phải là điều kiện để xét cho miễn trách nhiệm hình sự.

- Tội phạm mà người chưa thành niên thực hiện có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tức là có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 trở lên hoặc những tình tiết giảm nhẹ khác.

- Ngoài những tình tiết nêu trên người chưa thành niên phạm tội phải được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát giáo dục. Đây là điều kiện có tính chất phòng ngừa để đảm bảo cho người chưa thành niên được giáo dục, cải tạo, không phạm tội mới. Đồng thời điều kiện này cũng thể hiện trách nhiệm phối hợp trong giáo dục người chưa thành niên phạm tội của gia đình và xã hội.

Đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là khoan hồng, chủ yếu mang tính giáo dục, biện pháp cưỡng chế hình sự chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết. Việc xác định rõ khả năng nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc phạm tội không chỉ có ý nghĩa trong việc xem xét trách nhiệm pháp lý của người chưa thành niên đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà quan trọng hơn, là xác định cơ sở cho việc áp dụng hình thức và biện pháp

306

giáo dục, xử lý thích hợp cũng như các biện pháp hữu hiệu để loại bỏ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên đều cần phải xác định rõ khả năng nhận thức của người đó về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện cũng như nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc họ phạm tội.

Người chưa thành niên phạm tội là người dưới 18 tuổi. Nhưng không phải mọi hành vi phạm tội của người chưa thành niên sau khi thực hiện đều bị xử lý về hình sự như người đã thành niên, mà người thực hiện hành vi phạm tội phải ở một độ tuổi nhất định thì mới bị coi là chủ thể của tội phạm và việc xử lý họ cũng có những chính sách cụ thể phù hợp với đặc điểm riêng biệt với từng đối tượng cụ thể. Do vậy, ngoài những điều kiện chung có thể xem xét, việc miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999, trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng gây hại không lớn, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên (không nhất thiết phải là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999) và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục thì có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự đối với người đó. Quy định này mở rộng điều kiện để người chưa thành niên phạm tội có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát giáo dục và giúp đỡ của gia đình hoặc cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên ta cũng nhìn nhận một vấn đề là người chưa thành niên phạm tội muốn được xem xét để miễn trách nhiệm hình sự phải thoả những điều kiện đặt ra nếu không họ vẫn phải chịu biện pháp cưỡng chế của pháp luật hình sự cho dù họ chưa thành niên.

5. Giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội

Đối với người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt, nếu cải tạo tốt thì có thể được giảm mức hình phạt đã tuyên đối với họ. Các quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người đã thành niên vẫn áp dụng đối với người chưa thành niên, nhưng thời hạn tối thiểu để được xét giảm và mức hình phạt mà người chưa thành niên phải chấp hành thực tế thấp hơn đối với người đã thành niên. Cụ thể như sau:

- Thời hạn tối thiểu mà người chưa thành niên phải chấp hành để được xét giảm mức hình phạt đã tuyên là 1/4 mức hình phạt đã tuyên đối với họ.

- Người chưa thành niên được xét giảm nhiều lần và phải đảm bảo chấp hành trên thực tế là 2/5 mức hình phạt đã tuyên.

Ngoài ra, người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Đối với người chưa thành niên bị kết án phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền đó.

6. Xoá án đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 77 Bộ luật hình sự)

Điều 77 quy định, thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên phạm tội là một phần hai thời hạn quy định đối với người đã thành niên tại Điều 64 Bộ luật hình sự. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, trong trường hợp người chưa thành niên bị kết án, thời hạn để được đương nhiên xoá án tích là một phần hai so với người đã thành niên. Trong trường hợp người chưa thành niên phạm các tội quy định tại chương XI và chương XXIV thì thời hạn được xoá án tích (do quyết định của Toà án) giống như người đã thành niên. Về cách tính 307

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 306 - 311)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)