1. Tội phạm và hành vi vi phạm đạo đức
Đạo đức là tất cả những quan niệm, quy tắc, yêu cầu hình thành trong ý thức của các tầng lớp nhân dân nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về cái tốt, xấu, chính nghĩa, phi nghĩa...Đạo đức đảm bảo được thực hiện bởi dư luận xã hội, tập thể hoặc một giai cấp nhất định. Trong xã hội, những quan điểm, quan niệm về đạo đức rất khác nhau do ảnh hưởng của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Đạo đức không đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhưng một khi nó đã trở thành niềm tin nội tâm thì tương đối ổn định và được tuân thủ bằng ý thức tự giác của con người.
Pháp luật hình sự nói chung và Luật hình sự nói riêng là những quy tắc xử sự chung cho xã hội được giai cấp thống trị thông qua Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Đạo đức xuất hiện cùng với sự hình thành của xã hội loài người còn Luật hình sự chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp, Nhà nước xuất hiện. Trong một quốc gia, có thể tồn tại nhiều hệ thống đạo đức nhưng chỉ duy nhất một hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành.
Nhìn chung, tội phạm và hành vi vi phạm đạo đức cũng có những điểm giống nhau nhất định: đều là những hành vi vi phạm các yêu cầu của xã hội, quan niệm sống của con người, bị xã hội lên án...Chính vì thế, pháp luật thời phong kiến có nhiều trường hợp lẫn lộn giữa tội phạm và vi phạm đạo đức. Chẳng hạn, Quốc triều hình luật quy định: “Gian dâm với vợ kế, vợ lẽ của ông cha, với mẹ nuôi, mẹ kế.. .đều xử tội chém” (Điều 6 chương Hộ hôn). Thực ra, đối với các hành vi này, nếu không đến mức nghiêm trọng (vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như ngày nay) sẽ được điều chỉnh bằng các quy phạm đạo đức.
Tuy nhiên, về bản chất, tội phạm và hành vi vi phạm đạo đức có những điểm khác nhau rất cơ bản. Về hình thức, tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự với đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi vi phạm đạo đức là hành vi trái với phong tục tạp quán, quan điểm, tư tưởng của cộng đồng về cái tốt, xấu, thiện, ác...Về nội dung, tội phạm có tính nguy hiểm cao hơn rất nhiều so với hành vi vi phạm đạo đức thông qua các yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt hậu quả, tội phạm phải chịu các chế tài hình sự - cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, theo những thủ tục tố tụng rất chặt chẽ. Hành vi vi phạm đạo đức chỉ chịu sự phê phán, đánh giá, lên án của dư luận xã hội.
86
Phân biệt sự khác nhau giữa tội phạm và vi phạm đạo đức có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng đúng đắn pháp luật hình sự. Một hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì dù người thực hiện hành vi đó có “đạo đức” tốt vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, dù hành vi đó có vi phạm nghiêm trọng đạo đức xã hội, bị dư luận lên án nhưng chưa được quy định trong Bộ luật hình sự thì không thể xem là tội phạm. Ví dụ, hành vi chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng nếu chỉ đơn thuần là quan hệ tình dục lén lút hoặc những biểu hiện khác nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì chỉ bị coi là vi phạm đạo đức chứ không cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự.
2. Tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác
Vi phạm pháp luật nói chung là một khái niệm bao gồm vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự...v.v...Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều gây nguy hại cho xã hội, bởi nó phá vỡ trật tự xã hội, trực tiếp hoặc đe doạ gây thiệt hại vật chất hay phi vật chất cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải có sự phản ứng từ phía Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật để duy trì trật tự xã hội và bảo vệ sự tồn tại của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, những hành vi vi phạm pháp luật này có mức độ tiêu cực khác nhau trong việc gây thiệt hại nên cần có những biện pháp xử lý khác nhau để điều chỉnh các nhóm hành vi tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội trong từng lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội. Các ngành luật ra đời xuất phát từ thực tế đó.
Giữa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác có một số điểm chung sau đây:
- Là những hành vi vi phạm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành;
- Là những hành vi có lỗi (cố ý hoặc vô ý) và đều có tính nguy hiểm cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ;
- Phải gánh chịu hậu quả pháp lý.
Tuy nhiên, xét về bản chất, tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác có nhiều điểm khác nhau cơ bản. Ta hãy xem xét sự khác nhau giữa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật hành chính và dân sự (Luật hành chính và Luật dân sự là hai ngành luật điều chỉnh những hành vi gần giống với tội phạm). Trước hết, ta hãy xem xét tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Hành vi vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức (thông qua người đại diện) thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước... Như vậy, sự khác nhau trước hết là ở chủ thể. Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hay tổ chức, trong khi đó, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân. Xét về mặt hình thức, tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, khi đó, vi phạm pháp luật hành chính được quy định bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Chỉ thị...).
Dấu hiệu mấu chốt để phân biệt sự khác nhau giữa tội phạm và vi phạm pháp luật hành chính là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Tội phạm bao giờ cũng có tính nguy 87
hiểm cao hơn hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Để đánh giá chính xác tính nguy hiểm cho xã hội của một hành vi vi phạm pháp luật, chúng ta phải xem xét một cách toàn diện từ các yếu tố khách quan và chủ quan cụ thể. Chẳng hạn, hành vi trộm cắp tài sản của người khác nếu giá trị tài sản từ 500 ngàn đồng trở lên thì bị coi là tội phạm, nếu dưới 500 ngàn đồng thì chỉ vi phạm pháp luật hành chính. Tuy nhiên, nếu giá trị tài sản dưới 500 ngàn đồng nhưng đã bị xử lý hành chính, hoặc đã bị kết án về các tội chiếm đoạt mà còn tái phạm, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì cũng là tội phạm (Điều 138 Bộ luật hình sự).
Do sự khác nhau về tính nguy hiểm cho xã hội nên dẫn đến sự khác nhau về đường lối xử lý, thẩm quyền giải quyết và hậu quả pháp lý. Vi phạm pháp luật hành chính chủ yếu thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan quản lý hành chính, quá trình giải quyết sẽ tuân theo thủ tục tố tụng hành chính. Trong khi đó, tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, theo thủ tục tố tụng hình sự. Chế tài (hình phạt) áp dụng đối với tội phạm nghiêm khắc hơn nhiều so với các chế tài hành chính (ví dụ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình).
Tội phạm và vi phạm pháp luật dân sự cũng có những điểm khác nhau rất cơ bản. Vi phạm pháp luật dân sự là tất cả những việc làm trái với quy định của Bộ luật dân sự. Tội phạm luôn có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn vi phạm pháp luật dân sự. Chế tài dân sự luôn có mục đích nhằm khắc phục hậu quả xảy ra. Khi đó, chế tài hình sự nhằm cải tạo giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Để phân biệt tội phạm và vi phạm pháp luật dân sự không phải lúc nào cũng dễ, nhất là đối với những hành vi có sự giống nhau về hình thức pháp lý. Đôi lúc, chúng ta cũng cần dựa vào yếu tố chủ quan để xem xét đó là hành vi phạm tội hay vi phạm pháp luật dân sự. Chẳng hạn như trong vụ án sau đây: Do quen biết, chị Đoàn Thị Hoan đã nhiều lần vay tiền của chị Lương Thị Vinh và lần nào cũng trả đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn. Nhưng từ tháng 12/1991 đến tháng 01/1992, Hoan vay tổng cộng là 345 triệu đã trả gốc là 102 triệu đồng, còn lại 243 triệu đồng. Hoan trả lãi 157 500 000 đồng. Số còn lại, Hoan không trả được là vì Hoan cho Thìn vay lại mà nay Thìn đã bỏ trốn và bị Cục cảnh sát điều tra Bộ Nội vụ ra lệnh truy nã nhưng chưa bắt được. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều xác định Thìn đã chiếm đoạt số tiền của Hoan (vay của Vinh) nhưng vẫn kết án Hoan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 158 Bộ luật hình sự - theo Bộ luật hình sự năm 1985). Uỷ ban Thẩm phán TAND Tối cao xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm và tuyên án Hoan không phạm tội mà đây chỉ là quan hệ dân sự, bởi vì Hoan không có ý định chiếm đoạt số tiền vay đó mà do Thìn bỏ trốn nên Hoan không thể có tiền để trả cho Vinh.
Tóm lại, việc phân biệt tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật nói chung là rất khó. Nhiệm vụ của những người làm công tác pháp luật là phải nhận thức đúng đắn bản chất của chúng để xác định đường lối xử lý phù hợp, tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi cụ thể. Có như thế, pháp luật mới phát huy được tác dụng của nó trong công tác đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật.
88
CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ
1. Nêu khái niệm tội phạm?
2. Phân tích các đặc điểm của tội phạm?
3. Bản chất của tội phạm là gì?
4. Phân loại tội phạm theo khoản 2, 3 Điều 8 Bộ luật hình sự?
5. Hãy phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm khác?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và Cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006.
2. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, TPHCM, 2000.
3. Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Ấn quán Phong Phú, Sài Gòn, 1973.
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
5. Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.150
6. Viện Luật học, Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986.
7. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.
89