SAl LẦM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SAI LẦM ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 146 - 149)

BÀI 9: MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

III. SAl LẦM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SAI LẦM ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Sai lầm là quan niệm (nhận thức) không đúng đắn của một người về hiện tượng khách quan nào đó. Sai lầm trong luật hình sự được hiểu là quan niệm không đúng đắn của con người về tính chất pháp lý và về những tình tiết thực tế khác của hành vi mà người đó đã thực hiện. Có hai dạng sai lầm là sai lầm về pháp luật và sai lầm về sự việc.

1. Sai lầm về pháp luật

Sai lầm về pháp luật là sự hiểu lầm của một người về tính chất pháp lý của hành vi của mình. Sự sai lầm này có thể xảy ra trong hai trường hợp sau:

143

- Người có hành vi hiểu rằng hành vi của mình là phạm tội nhưng thực tế Luật hình sự không quy định hành vi đó là tội phạm. Trường hợp này người thực hiện hành vi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Người có hành vi cho rằng, hành vi của mình không phải là tội phạm nhưng thực tế Luật hình sự lại có quy định hành vi đó là tội phạm. Trường hợp này, người có hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ nhận thức được và có nghĩa vụ phải nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình.

2. Sai lầm về sự việc

Sai lầm về sự việc là sự hiểu lầm của một người về những tình tiết thực tế của hành vi của mình. Có một số dạng sai lầm về sự việc sau đây:

- Sai lầm về khách thể: là sai lầm liên quan đến mặt khách thể của tội phạm.

+ Người phạm tội có hành vi nhằm xâm hại đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế đã không xâm hại được vì đã có hành vi tác động sai vào đối tượng tác động không thuộc khách thể đó. Ví dụ, định giết người nhưng thực tế không giết được vì đã đâm vào một đối tượng không phải là người. Trường hợp này, dựa vào ý chí chủ quan của người phạm tội (mục đích, ý định phạm tội...), can phạm có thể bị xử lý về tội phạm mà họ đã dự tính ở giai đoạn chưa đạt.

+ Người có hành vi phạm tội nhằm xâm hại đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế đã không xâm hại được khách thể đó mà xâm hại đến một khách thể khác.

Theo thuyết chủ quan, dựa vào khách thể mà can phạm định xâm hại để xét xử. Ví dụ, A cướp giật tài sản trong tay B (A nghĩ rằng tài sản hiện tại là của B), không may tài sản B đang giữ là của cơ quan B. A sẽ bị xử lý về tội cướp giật tài sản (của công dân chứ không phải tài sản XHCN – tình tiết tăng nặng).

+ Người có hành vi phạm tội không định xâm hại đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế đã xâm hại do tác động nhằm vào đối tượng thuộc khách thể được Luật hình sự bảo vệ. Trường hợp này, người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm với lỗi vô ý. Chẳng hạn, một người giăng điện bắt chuột, có cảnh báo người qua lại nhưng có người vào và bị điện giật chết.

- Sai lầm về đối tượng: là sai lầm của một người về đối tượng tác động khi thực hiện tội phạm.

Sai lầm về đối tượng khác với sai lầm về khách thể. Trong sự sai lầm về khách thể, chủ thể cũng có sự sai lầm về đối tượng nhưng ngược lại thì không, sai lầm về đối tượng không có trường hợp sai lầm về khách thể. Ví dụ, định trộm tiền nhưng thực tế đã trộm được vàng. Sai lầm về đối tượng không ảnh hưởng gì đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Có điều, đối tượng mà người phạm tội bị xác định là đối tượng mà người phạm tội dự kiến ban đầu.

- Sai lầm về quan hệ nhân quả: là trường hợp người phạm tội có sự nhầm lẫn trong việc đánh giá sự phát triển của hành vi mà mình đã thực hiện. Chẳng hạn, định giết A nhưng 144

đâm trượt A và trúng B. Trường hợp này, phải chịu trách nhiệm hình sự về lỗi cố ý đối với tội định phạm và tội do vô ý đối với hậu quả đã gây ra.

- Sai lầm về công cụ, phương tiện: là trường hợp người phạm tội muốn xâm hại đến khách thể mà Luật hình sự bảo vệ nhưng không thực hiện được vì sử dụng nhầm công cụ, phương tiện. Ví dụ, dùng lựu đạn giết người nhưng nhầm lựu đạn “lép” nên không giết ai được cả. Họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm định thực hiện ở giai đoạn chưa đạt.

CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ

1. Nêu cơ sở lý luận của mặt chủ quan của tội phạm?

2. Mặt chủ quan của tội phạm và ý nghĩa của nó trong Luật hình sự Việt Nam như thế nào?

3. Phân tích nội dung mặt chủ quan của tội phạm?

4. Phân tích sai lầm và trách nhiệm hình sự?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và Cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006.

2. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần chung), Nxb TPHCM, TPHCM, 2000.

3. Ph. Ăngghen, Chống Đuy-rinh, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1971.

4. Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Ấn quán Phong Phú, Sài Gòn, 1973.

5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.

6. Triết học Mác-Lênin, Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội 1983.

7. Viện Luật học, Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986.

8. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.

145

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 146 - 149)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)