Chúng ta đã biết, dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm là về mặt khách quan phải có hành vi “cùng thực hiện” và về mặt chủ quan phải có hành vi “cùng cố ý”. Thực tế, có những hành vi liên quan đến hoạt động phạm tội nhưng không thoả mãn các dấu hiệu của đồng phạm. Dù vậy, đây cũng là những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội nên nó bị Luật hình sự quy định là tội phạm. Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, những hành vi phạm tội thuộc loại này có các dạng sau:
- Tội che giấu tội phạm (Điều 21 và Điều 313 Bộ luật hình sự) là hành vi của một người tuy không có hứa hẹn trước nhưng sau khi biết được tội phạm do người khác thực hiện xong, đã có hành vi che giấu người phạm tội, các chứng cứ hoặc cản trở việc phát hiện, điều tra, tìm ra sự thật của vụ phạm tội.Tội phạm này có các đặc điểm sau:
+ Hành vi che giấu tội phạm là hành vi tích cực;
+ Hành vi che giấu được thực hiện sau khi tội phạm kết thúc và không phải là trường hợp có hứa hẹn trước;
+ Lỗi là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích nhằm làm cho tội phạm, người phạm tội cũng như những gì liên quan đến tội phạm không bị phát hiện.
+ Chỉ những hành vi che giấu các tội phạm đã được liệt kê tại Điều 313 Bộ luật hình sự mới được xem là phạm tội này. Ví dụ, Đoàn Văn S, quê quán Kiên Giang, là công an xã 175
H.M. Trong lúc hết tiền và sẵn có súng ở nhà, S đã đến khống chế nhà anh Trần Văn T và lấy đi tám lượng vàng. Sáng hôm sau, anh T báo với cơ quan Điều tra và lệnh truy nã được phát đi. Thời gian này, S đã về Minh Hải để trốn và ở nhà một người bà con tên Lê Thị V.
Ban đầu V không biết S đã phạm tội nhưng tình cờ một hôm S đã để lộ điều đó cho V biết.
Một hôm, công an địa phương đến hỏi sự có mặt của S trong nhà V, vì thấy S ở đây đã lâu thì Thị V nói dối rằng S ở đây để phụ giúp gia đình V. Trường hợp này, V đã phạm tội che giấu tội phạm.
Hành vi che giấu tội phạm không được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự thì không bị coi là phạm tội che giấu tội phạm. Ví dụ, Lợi điều khiển xe gây tai nạn làm chết người nhưng không bị ai phát hiện, Lợi quăng xe bỏ trốn và đề nghị Hận nhận tội thay mình.
Hận đã ra tự thú và khai nhận mình đã gây tai nạn. Trong trường hợp này, rõ ràng hành vi của Hận bị xem là che giấu tội phạm. Tuy nhiên, tội phạm mà Hận che giấu (tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - Điều 202) không được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi che giấu của Hận không cấu thành tội phạm.
- Không tố giác tội phạm (Điều 22 và Điều 314 Bộ luật hình sự) là hành vi của một người tuy biết rõ tội phạm chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong mà không tố giác. Dạng tội phạm này có các đặc điểm sau:
+ Hành vi không tố giác được thực hiện bằng không hành động;
+ Lỗi là lỗi cố ý trực tiếp (biết rõ tội phạm chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong).
+ Chỉ những hành vi không tố giác các tội phạm được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự mới cấu thành tội phạm. Ví dụ, Phạm Văn C là kỹ thuật viên vi tính. C có một máy photocopy màu. Bằng những xảo thuật của mình, C đã tạo ra được những tờ bạc loại 50. 000 đồng Việt Nam giống như thật. Không ai biết được điều đó ngoại trừ một người bạn thân nhất của C là Dương Trọng N. Dù biết rằng đó là hành vi phạm tội nhưng N đã không tố giác với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Mọi việc không bị phát hiện cho đến một hôm ngày (20/12/2000) công an quận Y đến đọc lệnh bắt C và thật không may cho N vì lúc đó có mặt anh tại phòng khách. C bị truy tố về “tội làm tiền giả” (Điều 180 Bộ luật hình sự) và N bị truy tố về “tội không tố giác tội phạm” (Điều 314 Bộ luật hình sự).
Tuy nhiên, “Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng” chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 22). Đây là điểm sửa đổi mang tính nhân đạo, phù hợp với truyền thống Á đông của Bộ luật hình sự 1999 mà Bộ luật hình sự năm 1985 không có được. Trong Quốc triều hình luật đã từng có quy định khi những người thân che giấu tội phạm cho nhau thì không bị phạt, dĩ nhiên điều này không áp dụng cho các tội từ mưu phản trở lên (Điều 39, chương Danh lệ).
- Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250 Bộ luật hình sự) là hành vi của một người không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có. Như vậy, tội này được đặc trưng bởi những dấu hiệu sau:
+ Có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có;
176
+ Hành vi này được thực hiện sau khi tội phạm mà từ đó có tài sản kết thúc và không có hứa hẹn trước;
+ Lỗi cố ý trực tiếp (thường là vì động cơ vụ lợi).
Trong thực tế, có một số trường hợp người tiêu thụ tài sản không có hứa hẹn trước với người phạm tội nhưng sau khi biết được tài sản đó do phạm tội mà có thì đã có hành vi tiêu thụ tài sản này.
Dần dần, người tiêu thụ tài sản biết được tài sản đó là do người phạm tội đã trộm cắp tài sản mà có được. Nhiều lần sau đó, người tiêu thụ mặc nhiên tiêu thụ và ngầm hiểu đây là tài sản do phạm tội mà có. Nếu trường hợp này xảy ra, có thể coi người tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có là đồng phạm với vai trò giúp sức. Bởi vì, mặc dù việc tiêu thụ này không hề có sự thoả thuận bên ngoài nhưng thực chất, hai bên đã ngầm thoả thuận trước, hễ có tài sản do phạm tội mà có, người tiêu thụ sẽ tiêu thụ.
CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ 1. Nêu khái niệm đồng phạm?
2. Phân tích các dấu hiệu của đồng phạm?
3. Nêu những loại người đồng phạm?
4. Hãy phân loại đồng phạm và phân tích dấu hiệu phạm tội có tổ chức?
5. Nêu trách nhiệm hình sự trong đồng phạm?
6. Phân tích một số vấn đề liên quan đến đồng phạm?
7. Những tội phạm độc lập là gì?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1991.
2. Karpetx, Cá thể hoá hình phạt trong Luật hình Xô viết, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963.
3. Vũ văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử.
4. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần chung), Nxb TPHCM, TPHCM, 2000.
5. Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Ấn quán Phong Phú, Sài Gòn, 1973
6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
7. Viện Luật học, Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986.
8. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.
177