MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 213 - 219)

Tất cả mọi hoạt động có ý thức của con người đều nhằm đạt được một mục đích nhất định. Việc quy định và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội cũng thế. Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước mong muốn khi quy định trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với cá nhân người phạm tội.

Khi nghiên cứu về hình phạt, thật là thiếu sót nếu chúng ta không bàn về mục đích của hình phạt. Bởi vì, hiểu đúng về mục đích hình phạt sẽ là cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn hiệu quả của hình phạt được áp dụng. Mục đích của hình phạt chính là cái cuối cùng mà con người muốn đạt được khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Nói đến mục đích của hình phạt, chúng ta cũng khó tách rời với cơ sở lý luận của hình phạt vì sự hợp lý của hình phạt phần lớn phụ thuộc vào sự hợp lý của mục đích của nó. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động có ý thức của mình, con người đôi khi cũng gán cho hình phạt những mục đích chủ quan. Dù sao cũng cần phải nhận thấy rằng, có nhiều quan điểm khác nhau về mục đích của hình phạt, nhưng tập trung nhất có hai xu hướng lớn dựa theo hai trường phái trừng trị hay phòng ngừa.

Quan điểm thứ nhất coi hình phạt như sự trả thù của Nhà nước đối với kẻ phạm tội xuất phát từ nội dung của Học thuyết Trừng trị mà Immanuel Kant và Hampton là đại diện. Theo Thuyết này, hình phạt được áp dụng không phải nhằm vào những mục đích xã hội khác (như mong muốn người phạm tội và những người chứng kiến khác tuân thủ pháp luật) mà chính là nhằm trừng trị kẻ phạm tội.

Pháp luật hình sự đặt ra là nhằm để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như sự tồn tại của Nhà nước, chống lại các hành vi phạm tội. Nó biểu hiện một khía cạnh của “khế ước xã hội” và con người có thể tự do lựa chọn việc có vi phạm nó hay không. Khi một người phạm tội nghĩa là đã tự mình lựa

210

chọn việc vi phạm khế ước xã hội, gây thiệt hại cho xã hội. Hình phạt đặt ra để trừng trị những người có hành vi vi phạm ấy nhằm tạo ra sự cân bằng cho cán cân công lý, đồng thời cũng là để đảm tính công bằng xã hội. Như vậy, theo quan điểm này, trừng trị vừa là nội dung và cũng là mục đích của hình phạt.

Tuy nhiên, cũng có quan điểm chỉ thừa nhận trừng trị chỉ là nội dung, thuộc tính của hình phạt chứ không phải mục đích của hình phạt.123 Theo quan điểm này, trừng trị là một nội dung quan trọng nhất của hình phạt, không có nó sẽ không có hình phạt. Trừng trị là tiền đề cho việc thực hiện mục đích phòng ngừa và cải tạo giáo dục của hình phạt.

Quan điểm xem việc áp dụng hình phạt nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm và cải tạo giáo dục dựa trên lý thuyết vị lợi. Jeremy Bentham là người đại diện cho quan điểm này, biểu hiện tập trung nhất trong tác phẩm vượt thời gian “The Rationale of Punishment” (Sự hợp lý của Hình phạt) (1830).124 Theo Bentham, một hành vi phạm tội có thể nảy sinh từ hai nguồn: có thể được thực hiện bởi người đã từng thực hiện tội phạm hoặc những người có cùng động cơ và đủ điều kiện để thực hiện hành vi phạm tội tương tự như thế. Vì vậy, mục đích phòng ngừa tội phạm được chia thành hai loại:

phòng ngừa riêng được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội; và phòng ngừa chung áp dụng đối với tất cả những người khác trong xã hội.

Sự đau khổ và sung sướng là nguyên nhân cơ bản nhất của hành vi nhân loại. Khi con người nhận thức được rằng, sự đau khổ là hậu quả của hành vi, anh ta sẽ có khuynh hướng tránh việc thực hiện hành vi đó để tránh sự đau khổ. Nếu trong kết quả của việc thực hiện hành vi mà giá trị của sự đau khổ lớn hơn sự sung sướng, con người sẽ tuyệt đối không thực hiện chúng. Hình phạt với ý nghĩa là sự đau khổ khi đó sẽ trở thành phương tiện phòng ngừa tội phạm.

Đối với phòng ngừa riêng, hình phạt có tác dụng ngăn chặn người phạm tội tái phạm theo ba cách:

+ Hình phạt tước đi sự mong muốn phạm tội trong lòng người phạm tội. Trường hợp này, hình phạt khiến người phạm tội không còn mong muốn phạm tội nữa dù có đủ khả năng phạm tội. Để thực hiện được mục đích này, hình phạt đã phải thông qua chức năng cải tạo giáo dục của mình.

+ Hình phạt còn làm cho người phạm tội sợ việc thực hiện tội phạm. Anh ta có thể vẫn còn mong muốn thực hiện tội phạm nhưng không dám thực hiện vì sợ hình phạt. Hình phạt trong trường hợp này đóng vai trò như là một yếu tố răn đe người phạm tội.

+ Hình phạt tước đi khả năng phạm tội thực tế của người phạm tội. Trong trường hợp này, hình phạt đã tước đi ở người phạm tội khả năng phạm tội khiến anh ta không thể thực hiện được hành vi phạm tội nữa dù rất muốn. Chẳng hạn, hình phạt tù buộc người phạm tội phải ở trong trại giam, anh ta không có khả năng để phạm tội được.

Đối với mục đích phòng ngừa riêng, chúng ta thấy hình phạt có ba thành phần: cải tạo giáo dục, đe doạ và tước mất khả năng phạm tội. Nếu tội phạm được thực hiện bị coi là loại nguy hiểm cao, thể hiện sự tính toán trước của người tội phạm thì hình phạt cần thiết phải tước bỏ hẳn khả năng phạm tội của họ để tránh tội phạm được tái diễn (hình phạt tù chung thân, tử hình). Tuy nhiên, nếu tội phạm được thực hiện là loại ít nguy hiểm, yếu tố hình phạt chỉ cần là tạm thời, để sau đó đưa người phạm tội trở lại xã hội thì hình phạt khi đó chỉ nhằm mục đích cải tạo hoặc đe doạ là đủ (các hình phạt không phải tù).

Để thực hiện mục đích phòng ngừa chung, hình phạt đã phát huy tác dụng lên án của mình, như là một tấm gương minh hoạ. Khi đó, mọi người hiểu rằng, hình phạt chính là hậu quả mà kẻ phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội. Và, nếu bất kỳ ai thực hiện hành vi phạm tội cũng sẽ gánh lấy hậu quả tương tự như thế.

Theo sau mục đích phòng ngừa tội phạm, hình phạt còn có mục đích đền bù thiệt hại do tội phạm gây ra. Sự đền bù này nhằm khắc phục những hậu quả do tội phạm gây ra đối với nạn nhân. Thật ra, đền bù thiệt hại không phải là đối tượng của hình phạt bởi vì nó liên quan đến người khác chứ không phải người phạm tội. Tuy nhiên, theo Bentham, mục đích phòng ngừa và đền bù có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Chúng ta có thể đạt được đồng thời hai mục đích này của hình phạt cùng một lúc.

123 Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.25.

124 Jeremy Bentham, The Rationale of Punishment, ed. Richard Smith (London, 1830).

211

Điều này có thể xảy ra trong những trường hợp đặc biệt, như bồi thường tiền hay phục hồi danh dự cho nạn nhân.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, quan điểm trừng trị hay phòng ngừa của hình phạt đều có những sự hợp lý riêng. Tuy nhiên, theo quan điểm tôi, cần thiết phải kết hợp những yếu tố tích cực của hai quan điểm để có được cái nhìn hoàn thiện về mục đích của hình phạt, để phát huy vai trò tích cực của hình phạt. Chúng ta không nên cực đoan, thái quá để rồi nhìn hình phạt ở một góc độ phiến diện.

Vì thế, theo tôi, hình phạt có 3 mục đích cơ bản, đó là: (1) trừng trị người phạm tội; (2) Cải tạo người phạm tội và giáo dục những người khác có ý thức tuân theo pháp luật; (3) phòng ngừa tội phạm trong đó bao gồm cả mục đích bảo vệ xã hội (bằng cách tước bỏ khả năng phạm tội của người phạm tội) và răn đe để người phạm tội và những người khác không dám nghĩ đến việc phạm tội.

Thật vậy, đứng trên phương diện công lý, không thể có hành vi phạm tội, gây thiệt hại cho xã hội mà không bị trừng trị. Mục đích trừng trị của hình phạt sẽ tạo nên sự cân bằng của cán cân công lý.

Cho nên, nếu chúng ta không thừa nhận mục đích trừng trị của hình phạt đồng nghĩa với việc ta phủ nhận mục đích bảo vệ công lý của hình phạt, đó là một thực tế khách quan phù hợp với quy luật xã hội. Công lý được đảm bảo, ai trong chúng ta cũng mong muốn điều đó, và tính trừng trị của hình phạt đã chuyển tải ý chí đó của con người. Từ thời cổ, con người đã có quan niệm dùng hình phạt để trừng trị những kẻ có tội lỗi. Điều đó phù hợp với quy luật tự nhiên. Cho nên, công nhận mục đích trừng trị của hình phạt là một đòi hỏi khách quan chứ không phải một việc làm mang tính triết lý trừu tượng.

Tuy nhiên, nếu chỉ là thuần tuý để bảo vệ công lý mà không còn một mục đích nào khác thì hình phạt xem ra chưa thật sự cần thiết lắm. Bởi vì, như chúng ta đã biết, hình phạt chính là một điều “tai hại”, không ai muốn sử dụng nó ngoại trừ khi kết quả sử dụng nó sẽ mang lại những lợi ích lớn hơn nhiều so với thiệt hại mà nó gây ra cho xã hội. Vì thế, nếu việc áp dụng hình phạt nhằm vào càng nhiều mục đích thì càng tốt miễn sao thực tế nó có thể đạt được những mục đích đó. Và như thế, thông qua việc trừng trị người phạm tội, hình phạt còn có thể tước khả năng phạm tội của người phạm tội để họ không thể tái phạm theo câu ngạn ngữ “ngựa quen đường cũ”. Trong mục đích đó, đồng thời chúng ta cũng có thể đạt được mục đích cải tạo người phạm tội trở thành người tốt cũng như có thể răn đe người khác hãy tránh xa việc phạm tội nếu không muốn gánh lấy những hậu quả như người phạm tội đang gánh chịu. Đó còn được xem là mục đích cải tạo giáo dục của hình phạt. Xem hình phạt vừa có mục đích trừng trị vừa có mục đích phòng ngừa và cải tạo giáo dục trước hết phát huy được hết tất cả các khả năng của hình phạt. Mặt khác, việc kết hợp này sẽ tránh được các quan điểm xung đột nhau khi chỉ công nhận mục đích này hoặc mục đích kia của hình phạt. Quan điểm tổng hợp này về mục đích của hình phạt được các nhà lập pháp hình sự Việt Nam ủng hộ.

Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.

Theo Luật hình sự Việt Nam, mục đích của hình phạt trước hết là nhằm trừng trị người phạm tội. Xét ở khía cạnh nội dung, bất cứ hình phạt nào cũng chứa đựng những sự tước bỏ hoặc hạn chế nhất định (có thể về thể chất, tinh thần hoặc tài sản) đối với người bị áp dụng hình phạt. Vì vậy, trừng trị là thuộc tính nội tại của hình phạt buộc chúng ta phải thừa nhận thực tế khách quan đó. Chúng ta có thể nói, trừng trị là nội dung của hình phạt.

Khi áp dụng hình phạt, Nhà nước một mặt đã trừng trị người phạm tội về hành vi phạm tội của họ và thông qua đó đạt mục đích cải tạo, giáo dụ của hình phạt. Tính trừng trị của hình phạt ở những điều kiện lịch sử khác nhau sẽ không giống nhau phụ thuộc vào khả năng tự vệ của xã hội đối với những hành vi phạm tội vi phạm các điều kiện của sự tồn tại xã hội. Tác dụng trừng trị của hình phạt nhằm mang lại mục đích phòng ngừa riêng. Nội dung này thể hiện ở chỗ nó tước bỏ hoặc hạn chế nhất định về quyền và lợi ích của người bị kết án. Mức độ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế này tuỳ thuộc vào tính nguy hiểm của hành vi phạm tội 212

mà người đó đã thực hiện. Về nguyên tắc, tính nguy hiểm của tội phạm càng cao thì tính trừng trị càng nghiêm khắc.

Bên cạnh trừng trị, hình phạt còn có mục phòng ngừa tội phạm thông qua giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành một thành viên tốt của xã hội. Đây là mục đích chính của phòng ngừa riêng. Thực tế trong nhiều năm qua cho thấy, càng “trừng trị” tội phạm ở mức độ nghiêm khắc cao nhưng tội phạm không có xu hướng giảm. Đã đến lúc chúng ta cần thay đổi quan điểm, xem “phòng ngừa” tội phạm hơn là “chống” tội phạm, chú trọng mục đích cải tạo, giáo dục hơn là trừng trị. Thể hiện quan điểm này chúng ta có thể thấy sự thay đổi nhóm từ “đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” (Bộ luật hình sự năm 1999) thay cho nhóm từ “đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” (Bộ luật hình sự năm 1985).

Giữa trừng trị và cải tạo, giáo dục trong mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt có mối quan hệ chặt chẽ nhau. Không thể đạt mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội (thậm chí có tác dụng ngược lại) nếu mức độ nghiêm khắc của hình phạt là không tương xứng với tính nguy hiểm của tội phạm. Mặt khác, nếu hình phạt chỉ có tác dụng trừng trị sẽ khiến cho người phạm tội khiếp sợ nhưng không đồng nghĩa với tội phạm giảm, bởi vì khi người phạm tội đã qua “ngưỡng” sợ hình phạt thì tội phạm sẽ gia tăng hơn gấp nhiều lần kèm theo tính nguy hiểm cũng tăng.

Ngoài mục đích phòng ngừa riêng, hình phạt còn có tác dụng phòng ngừa chung.

Điều 27 có quy định: “Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ ngoài việc trừng trị và giáo dục, cải tạo chính người phạm tội còn có tác động đến các thành viên khác của xã hội, những người chưa phạm tội. Tuỳ vào từng loại hình phạt cụ thể được áp dụng tương ứng với tính nguy hiểm của tội phạm, ý thức pháp luật, đặc điểm tâm sinh lý...của mỗi cá nhân trong xã hội mà mức độ tác động sẽ khác nhau. Thật ra, trong xã hội, số người phạm tội là thiểu số xuất phát từ nhóm người có ý thức pháp luật không vững, dễ bị sa vào con đường phạm tội. Tác dụng phòng ngừa chung của hình phạt chủ yếu nhằm vào các đối tượng này, ngăn ngừa họ bị sa ngã vào con đường phạm tội. Hình phạt chỉ phát huy được tác dụng phòng ngừa chung khi quần chúng nhân dân hiểu biết pháp luật, thấy được sự cần thiết của công bằng, cần thiết đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, cần thiết phải kết hợp nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục...nhằm tuyên truyền nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân.

Hiệu quả phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng của hình phạt có mối quan hệ chặt chẽ nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Không thể đạt được mục đích phòng ngừa chung nếu mục đích phòng ngừa riêng bị triệt tiêu và ngược lại nếu mục đích phòng ngừa chung bị hạn chế thì phòng ngừa riêng sẽ thiếu môi trường xã hội thuận lợi. Không thể khiến cho những người khác tôn trọng pháp luật trong khi hình phạt đã dẫn đến tác dụng người bị kết án vẫn xem thường pháp luật, vẫn vi phạm pháp luật. Ngược lại, thật khó làm cho người bị kết án chấp hành hình phạt tốt, cải tạo nhanh trở thành người có ích cho xã hội, không tái phạm nếu hình phạt đó khiến ngoài xã hội, tội phạm vẫn gia tăng, kỷ cương, trật tự pháp luật không được đảm bảo. Tuy nhiên, khi mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng có mâu thuẫn thì mục đích phòng ngừa chung ưu tiên được hướng tới.

213

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 213 - 219)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)